TRIỆU TỪ TRUYỀN -- THƠ -- NGÀY XƯA VÀ BÂY GIỜ




TRIỆU TỪ TRUYỀN

- THƠ -

NGÀY XƯA VÀ BÂY GIỜ


 

(bài viết của TỪ KẾ TƯỜNG)



Tôi và Triệu Công Tinh Trung (tên thật của một bút danh ngày xưa là Triệu Cung Tinh và Triệu Từ Truyền bây giờ) là bạn học từ năm lớp Đệ Tam (lớp 10 bây giờ) trường Nguyễn Văn Khuê nằm trên đường Nguyễn Thái Học Q1. Trung học Pháp văn là sinh ngữ chính còn tôi học Anh văn nhưng vẫn có những giờ lên lớp học chung với nhau môn Hán văn. Những năm đó nhà Trung ở Q4 bên chân cầu Tân Thuận còn nhà tôi cũng ở Q4 hẻm Lý Nhơn có rạp chiếu bóng Nam Tiến đường Bến Vân Đồn nằm chếch cầu Ông Lãnh non nửa cây số. 

Dạo ấy ngoài giờ học ở lớp ở trường chúng tôi thường gặp nhau lắm và rồi bỗng một hôm chúng tôi phát hiện ra... cả hai cùng làm thơ.

Tất nhiên thơ của Triệu Cung Tinh khác với thơ tôi nhiều những bài thơ của Trung thiên về suy tưởng và có khuynh hướng chính trị dù là thơ tình hay thơ mang màu sắc tranh đấu chống chế độ cũ.

Lứa tuổi của chúng tôi ngày ấy còn quá trẻ chỉ 15-16 nhưng đã có thơ đăng báo lại là những tờ báo văn nghệ có tiếng tăm mà để được chen vào "ngồi chung chiếu" với những tên tuổi lớn khác thật không phải dễ dàng dù không được trả nhuận bút chẳng tờ báo biếu nhưng về mặt tinh thần lại là một sự hãnh diện ngấm ngầm hay được biểu lộ qua tác phong kiêu ngạo khinh bạc. Trung cũng không thoát khỏi tâm lý này và lại là thêm một tính cách khác hẳn với tôi.

Nhưng thật ngạc nhiên là chúng tôi chẳng lấy gì làm nguyên tắc để đố kỵ với nhau trái lại rất thân nhau. Có lẽ lúc ấy chúng tôi còn ở tuổi học trò hồn nhiên trong sáng sống hết mình với thơ ca và tài năng chớm bộc phát. Và đặc biệt hơn chúng tôi là những đứa học trò nghèo quá nghèo không có nổi một chiếc xe đạp chỉ đi bộ hoặc cùng lắm là leo xe buýt. Nhưng thơ thì thật chí tình hào sảng.


Vào những năm đó Triệu Cung Tinh đã có bài "Chưa Tới":


Tay
tôi sao chẳng chịu dài

Giữa khi tình ái những ngày lên cơn

Tuổi thanh xuân vội tủi hờn

Hụt em núi với đã mòn sức hơi

Bàn tay chết đuồi rã rời

Cỏ hoa xưa đã ngậm lòi chiến tranh

Điêu tàn trời đất ngày xanh

Biến tan thân thể nguyên lành thiếu niên

Còn đây tĩnh vật ưu phiền

Bao giờ chân bước khỏi miền hoang vu


6/1963
(trong tập Đêm Lên Cơn Dài - x/b1965)


Tất nhiên trong cuộc sống không bao giờ có sự bình lặng như quy luật vốn có sẵn của nó. Thảm họa cháy nhà ở quận 4 khiến tôi phải thay đổi chỗ ở về tận Nhà Bè (Q7 bây giờ) Trung cũng thế về Gia Định (Bình Thạnh ngày nay). Rồi những năm sau đó khi tốc độ đổ quân của Mỹ vào chiến trường miền Nam nhanh hơn dày đặc hơn thì đường phố Sài Gòn cũng đầy đặc lính Mỹ. Tôi cũng rời Nhà Bè về ở Thị Nghè một căn nhà mướn trong một hẻm sâu ở xóm Cầu Ván luôn luôn sôi động vì tệ nạn xã hội và những cuộc bố ráp của lính.

Thời điểm này phong trào chống đối chiến tranh chống Mỹ-Diệm nổi lên mạnh mẽ không chỉ ngoài đường phố mà lan vào các trường học. Trường Nguyễn Văn Khuê lúc đó là trường tư thục nhưng cũng tham gia phong trào này rất sôi nổi chúng tôi thường xuyên "bãi học" để tham gia phong trào có những hôm bàn ghế trong lớp được tập trung ném xuống sân trường học sinh đốt cả bảng đen và có những tiếng nổ của bom tự tạo.

Một hôm Trung rủ tôi làm báo tường tờ báo tường mang tên "Bình Nguyên" ra đời chỉ có tôi và Trung thực hiện trong một đêm nhưng đầy đủ tin thời sự và thơ văn rất "máu lửa". Tờ báo khổ rộng giấy Croqui trình bày đẹp và ấn tượng được dán trong sân trường ngay chỗ trung tâm từ cổng trường bước vào. Đây là một sự kiện lớn (cộng với việc Trung được bầu là trương đại diện học sinh -1963) sau đó Trung bị đuổi  phải chuyển học trường khác còn tôi chỉ ngồi lại đến năm Đệ Nhị (lớp 11 bây giờ) rồi cũng phải chuyển về trường Nguyễn Thượng Hiền ở đường Trần Qúy Cáp Q3 (Võ Văn Tần ngày nay).


Một trong những bài thơ vào thời kỳ ấy của Triệu Cung Tinh đã nói lên phần nào tâm trạng của tuổi trẻ chúng tôi trong không khí hừng hực lửa khói đấu tranh trong thân phận của của miền Nam nổi chìm của thành phố Sài Gòn đầy biến động và của tình yêu một thời thiết tha mơ ước. Đó là bài "Tỏ Tình":


Tuổi trẻ giống cụm mây đen đỉnh núi

Phủ mịt mờ trên chót vót rừng xanh

Những tia sáng phóng từ lòng hân tủi

Thấy em là viên đá sắp xây thành

Dòng suối xuôi cá lội ngược như anh

Mang dũng cảm khắp châu thân tình ái

Cồng sắt xiết bàn chân chiều thứ bảy

Kinh thành xa em cũ của quê hương

Anh vẫy vùng vì réo rắt yêu thương

Môi em đỏ mắt em buồn thưa thớt

Tuổi trẻ là rừng xanh cao chót vót

Dòng suối cuồng kéo quỵ cả cỏ cây

Anh đấu tranh giữa giọt sáng trong mây

Thì xương máu thì em thành con nước

Đất mềm dẻo mọc tóc rừng xanh mướt

Phải không em mưa nắng của miền Nam


10/1964
(trong tập Đêm Lên Cơn Dài)


Từ khi về ở Thị Nghè chúng tôi có thêm người bạn mới đó là Nguyễn Tôn Nhan (lúc ấy còn ký là Trần Hồng Nhan) chúng tôi thường hẹn nhau ở bến xe buýt bên hông Bưu Điện Gia Định vào lúc sáng sớm rồi cùng xuống Sài Gòn... uống cà phê ngồi mãi ở quán cà phê Kim Sơn nằm ở góc đường Nguyễn Trung Trực - Lê Lợi bàn chuyện làm báo bình luận văn nghệ chán chê rồi sang đọc báo "cọp" ở quầy báo của cô Nga ốm cạnh quầy nhạc Mạnh Phát.

Tuổi còn trẻ mê văn nghệ và dĩ nhiên phải làm báo nhưng chúng tôi hồi ấy chỉ có tinh thần là chính còn tiền bạc thì không. Làm báo ở đây là làm... báo lậu tự bỏ tiền ra in tự phát hành và biết rằng làm báo kiểu bộc phát ngẫu hứng như thế sẽ không sống nổi nhưng không hiểu sao đứa nào cũng hăng say. Và rồi chúng tôi làm thật Trung đứng ra chủ trương tờ "Bộ Lạc Mới" ngôi nhà mướn của tôi trong con hẻm nhỏ xíu ở Thị Nghè được dùng làm "toà soạn" trương bảng hiệu lên đàng hoàng. Tờ báo được in Ty-pô chỉ 1 trang giấy khổ 1m X 65 cm gấp tư thế nhưng cũng đầy đủ tuyên ngôn tiểu luận thơ văn... và chỉ ra duy nhất được 1 số thì... hết tiền. Báo ngưng nhưng bảng hiệu còn chỉ là tên tờ báo vẽ bằng sơn xanh trên một mảnh thiếc cỡ bảng số xe gắn máy đóng ở góc tường của nhà tôi nhưng khiến bà chủ nhà (không biết chữ) tưởng đó là khẩu hiện gì ghê gớm để chống đối chế độ cũ thế là bà bắt tôi gỡ xuống nếu không bà sẽ lấy nhà lại.

Sau đó Trung in tập thơ đầu tay "Đêm Lên Cơn Dài" ký là Triệu Cung Tinh một tập thơ mỏng nhưng gồm nhiều bài thơ mà tôi cho là rất xuấc sắc thể hiện được tài hoa của Trung ngay cả về sau này khi Trung đã là Triệu Từ Truyền có nhiều tập thơ giá trị sâu sắc ý tưởng chặt chẽ kỹ thuật hơn nhưng tôi vẫn không thích bằng những bài thơ bay bổng tài hoa trong tập thơ đầu đời của Trung (và cũng chính vì thế nên tôi đã giới thiệu tập thơ này trên tờ Nghệ Thuật một tờ tuần báo văn nghệ có giá trị trước năm 1975 với bút danh Cung Nhự Thức - lúc đó tôi mới vừa 20 tuổi đang trốn lính còn Trung thì đã vào chiến khu).

Thời gian trước đó chúng tôi còn làm thêm một tờ báo nữa là tờ "Đất Đứng" đây là một tập san văn nghệ khổ 13X19 khá dày do Tô Thùy Nghiêm - một người bạn văn nghệ khác của chúng tôi bỏ tiền ra làm tôi Triệu Cung Tinh Nguyễn Tôn Nhan (lúc đó còn ký là Trần Hồng Nhan) là những người viết biên tập chủ lực và tờ tập san này cũng chỉ ra được đúng 1 số là hết tiền không in tiếp được nữa.


Thế rồi Trung tham gia cách mạng vào chiến khu như một chuyện tất yếu phải đến. Tôi không thể tiếp tục học nữa vì thi rớt Tú tài và phải tự kiếm sống. Trong nhóm bạn thân cùng trang lứa tôi là người phải ra đời sớm và cũng chính vì thế nhảy vào làng báo sớm nhất khi chỉ mới ở tuổi 19. Vừa làm báo vừa viết văn may mắn làm sao sách của tôi lại bán rất chạy ngay ở tác phẩm đầu tay là cuốn truyện dài "Huyền Xưa".

Giai đoạn này ngôi nhà nhỏ ở Thị Nghè tôi thuê tập trung khá nhiều bạn bè văn nghệ. Ở Huế vào có Nguỵ Ngữ Mường Mán. Ở Quy Nhơn có Đặng Tấn Tới ở Đà Nẵng có Phương Tấn ở Tam Kỳ có Huy Tưởng và Cung Văn ( Nguyễn Vạn Hồng) Cung Tích Biền cũng đã tìm gặp tôi ở đây. Nói chung anh em văn nghệ ở các nơi kể cả miền Tây lên như Phạm Tuế Biên Hòa xuống như Tô Thùy Nghiêm ( Nguyễn Thiếu Nhẫn) đều ghé... và tất nhiên thường trực có Trần Hồng Nhan. Riêng Triệu Cung Tinh thỉnh thoảng có ghé đến và ngủ lại vài đêm thời gian này Trung ở đâu tôi không rõ nhưng tôi biết Trung đã qua vài nhà tù vì bị bắt trong lúc hoạt động. Đêm Trung trải chiếu ngủ dưới nền xi măng dù nhà vẫn có giường cho Trung ngủ và bạn bè của tôi dù thân hay chỉ mới quen nhưng đã tới nhà thì má tôi vẫn xem như con và rất dễ tính chẳng bao giờ bà phàn nàn gì chuyện bạn bè của con.

Giai đoạn này Trung lại rủ tôi làm tờ "Vùng Lên" một tờ báo lậu của phong trào Sinh viên - Học sinh Sài Gòn đấu tranh chống chế độ Mỹ-Thiệu. Trung và tôi ôm báo đi... ký gửi ở các sập báo ngoài đường Lê Lợi liều lĩnh đến thế nhưng không hiểu sao tôi và Trung lại lọt qua được mạng lưới theo dõi của công an chìm thời đó. Nhưng tờ "Vùng Lên" cũng chỉ phát hành được một vài số rồi cũng ngưng. Trung lại đi lại về rủ tôi làm tờ báo khác in ở một nhà in nằm trên đường Trần Kế Xương - Gia Định. Tất nhiên báo đấu tranh chống chế độ cũ công khai. Sau bị bể Trung đổi sang một nhà in gần đấy trên một con đường heo hút khác thuộc địa bàn Gia Định.

Tôi còn nhớ một hôm đến nhà in sửa bài thấy thầy thợ vắng hoe chủ nhà in không có mặt tưởng báo in ở đây bị lộ Trung và tôi đang lo thì bà vợ ông chủ nhà in ra giải thích lý do chồng mình phải đi "tị nạn" vì ông Nguyễn Đức Sơn (tức nhà thơ Sao Trên Rừng) có đặt in một tập thơ do thợ xếp chữ xếp nhằm sao đó khiến Nguyễn Đức Sơn... vác dao tới rượt ông chủ để chém làm ông này phải chạy trốn.


Phải nhắc lại những kỷ niệm như thế để thấy rằng Trung là một người rất say mê làm báo dù lúc đó là công tác được giao hay tự nguyện hoặc bộc phát Trung vẫn làm với niềm say mê như có sẵn trong máu và lý tưởng một thời tuổi trẻ của mình. Hết làm báo ở tù khi ra hoạt động lại Trung lại đến nhà tôi ở ít hôm và rồi lại biến mất.

Một lần hình như là sau năm 1972 chiến tranh trở nên khốc liệt hơn mà báo chí lúc bấy giờ gọi là "mùa hè đỏ lửa" một hôm Trung xuất hiện với mấy người bạn và nhờ tôi mua giúp một cái máy đánh chữ để đem vào khu. Máy đánh chữ dạo ấy mua không khó bán đầy ở các nhà sách đường Lê Lợi có tiền là mua được nhưng mua để mang vào khu thì rất nguy hiểm. Tôi nêu thắc mắc này ra thì những người bạn đi cùng với Trung bảo đảm rằng sẽ mang đi an toàn. Ít ngày sau đúng hẹn Trung và mấy người bạn đến nhà máy đánh chữ có sẵn để Trung mang vào khu.


Từ ấy tôi không còn gặp Trung nữa nhưng sau đó biết Trung bị bắt đày ra Côn Đảo và rồi sau Hiệp định Paris Trung được trao trả ở Lộc Ninh biết Trung thoát khỏi ngục tù Côn Đảo và còn sống tôi rất mừng.


Sau ngày giải phóng 30-4-1975 Trần Hồng Nhan (lúc này công tác ở Ban Văn hóa - Thông tin Q4) có gặp tôi ở quán cà phê lề đường Nguyễn Bỉnh Khiêm báo tin Triệu Cung Tinh về công tác ở quận 4 có nhắn tôi qua chơi. Nhưng lúc ấy tôi lại phải lo chống chọi với một gia đình nhiều miệng ăn trong cơn khủng hoảng về mặt tinh thần cũng như kinh tế nên mãi một thời gian sau qua lời Trần Hồng Nhan tôi mới gặp lại Trung và về công tác ở Ban Văn hóa -Thông tin quận 4 với anh Nguyễn Khắc Vỹ (Ba Khanh).


Lúc này Trung giữ chức Phó chủ tịch UBND Q4 phụ trách Văn Xã chúng tôi chỉ mới trên dưới 30 tuổi và Trung được xem như một cán bộ lãnh đạo cấp quận trẻ nhất lúc bấy giờ. Còn tôi sau một thời gian công tác ở nhiều vị trí được giao phụ trách Nhà Văn Hóa Q4.

Trong các loại hình hoạt động của Nhà Văn Hóa cấp quận có hoạt động của các Câu lạc bộ mà Câu lạc bô Thơ - Văn của Nhà Văn Hóa Q4 được xem là mạnh nhất. Trong những buổi sinh hoạt định ký của Câu lạc bộ Thơ - Văn này Trung đều đến dự không với tư cách của người phụ trách Văn Xã mà với tư cách của một nhà thơ.

Tôi hơi ngạc nhiên với những bài thơ tình mới làm của Triệu Cung Tinh ký dưới bút danh mới là Triệu Từ Truyền. Những bài thơ ấy đã được chính tác giả đọc trước buổi sinh hoạc của Câu lạc bô Thơ - Văn quy tụ nhiều cây viết trẻ của Q4 cũng như nhiều tác giả đã thành danh công tác ở Q4 như: Lý Minh Cao Quảng Văn Trần Dạ Lữ Nguyễn Tôn Nhan (Trần Hồng Nhan) Lưu Ngọc Vang... và những khách mời là bạn bè thân hữu bởi quan hệ của anh Nguyễn Khắc Vỹ và tôi tương đối rộng. Tôi nhớ có cả Hoàng Phủ Ngọc Tường Nguyễn Trọng Oánh Hoàng Phủ Ngọc Phan Hoài Vũ Diệp Minh Tuyền Trần Hữu Lục...


Tôi còn nhớ một hôm Triệu Cung Tinh (bây giờ đã ký là Triệu Từ Truyền) mang đến Nhà Văn Hóa (tôi làm việc và ở luôn tại đây) đưa cho tôi mấy bài thơ anh mới sáng tác hầu hết là thơ tình. Thơ của Trung bấy giờ với giọng điệu thiết tha mà trong trẻo đọc thơ tôi biết ngay Trung đang yêu và lại có một tình yêu lớn (đối với nhà thơ tình yêu nào cũng lớn cả chỉ có lớn trước hoặc lớn sau mà thôi).

Nhưng lớn ở đây có nghĩa bên cạnh công việc căng thẳng của thời kỳ đầu những năm sau giải phóng đặc biệt trong giai đọan thiếu thốn khó khăn của thời bao cấp cán bộ ăn theo tiêu chuẩn công tác ngập đầu đấu tranh nội bộ mêt óc ngoài lý tưởng cách mạng ra nếu không có một tình yêu làm người ta yêu đến thiết tha để làm một chỗ dựa tinh thần tự điều chỉnh những giây phút mất thăng bằng trong tâm tưởng thì sẽ rất dễ bị stress hoặc khủng hoảng tâm lý. Nhưng những bài thơ tình trong trẻo câu chữ mật ngọt của Trung làm cho một người con gái nào đó khiến tôi rất mừng. Và mừng nhất thấy Trung còn làm thơ được trong cương vị của một lãnh đạo chính quyền cấp quận kiêm cả Trưởng ban kế hoạch thì thật đáng quý.

Một trong những bài thơ dạo ấy Trung đưa tôi xem khiến tôi đặc biệt chú ý là bài "Dòng Suối" một bài thơ 5 chữ mà rất tiếc tôi không nhớ hết cả bài thơ. Tất nhiên tôi còn nhớ tên bài thơ cũng là tên người phụ nữ mà Trung yêu.


Triệu Công Tinh Trung Triệu Cung Tinh hay Triệu Từ Truyền vẫn chỉ là một con người. Nhưng con người ấy không thể phân thân một nửa này làm chính trị một nửa kia làm văn nghệ. Nếu Trung là một người làm chính trị thì con đường hoạn lộ của anh chắc có lẽ sẽ thênh thang bởi lúc ấy Trung là một cán bộ lãnh đạo quận tuổi trên dưới 30 học hành đàng hoàng tốt nghiệp trường Đảng N.A.Q. ra. Nhưng trong con người ở cương vị chính trị ấy lại có một nửa kia là văn nghệ đầu óc phóng khoáng có tài năng và cá tính lẫn một chút kiêu ngạo nói năng thẳng thắn đấu tranh gay gắt với những trì trệ và thói quan liêu nạn bè cánh của những cán bộ cùng cấp tuổi đời lớn hơn mà thiếu sự mềm dẻo nên dễ mất lòng và không thu được thiện cảm. Do đó Trung bị cô lập và bấy giờ người ta mới tìm ra những sơ hở trong sinh hoạt và phong cách sống nghệ sĩ của Trung trong thời kỳ đầu những năm chưa đổi mới để đẩy anh đi. Và một khi người ta muốn tìm ra lý do để phê phán với ác ý thì thiếu gì lý do và thiếu gì dịp.


Nhưng không sao Trung đã nhân dịp ấy để từ bỏ môi trường không phải của mình và trở về với văn nghệ thứ đam mê như là máu thịt của anh từ thời niên thiếu.

Những năm sau này anh mới thật sự là Triệu Từ Truyền yêu hết mình sống hết mình ngao du hết mình và viết cũng hết mình. Triệu Từ Truyền đã yêu như là sống và viết để sống như không thể chết.

Triệu Từ Truyền rời quận 4 trước tôi vài năm và đến năm 1986 tôi cũng rời quận 4 chuyển ngành về CATP và công tác ở Báo CATP. Phải nói là thời gian đó chúng tôi ít gặp nhau hình như Triệu Từ Truyền dành thời gian để đi và viết. Còn tôi làm báo và viết.

Rồi một hôm bất ngờ Triệu Từ Truyền mang tới tặng tôi một tập sách mới vừa in xong cuốn sách khá dày có thể gọi đó là truyện dài cũng được tùy bút tạp văn ký sự hay hồi ký cũng xong nhưng tôi thấy thấp thoáng trên những trang sách ấy là một phần đời của bạn tôi trên một vùng đất hào khí mà khắc nghiệt. Tôi quên tựa sách là gì nhưng biết rất rõ những câu chuyện trong ấy là chuyện thật bởi vì tôi đã cùng sống cùng chia sẻ với bạn tôi qua một giai đoạn thăng trầm nhiều biến động và đầy tâm trạng nên để lại dấu ấn đậm nét với tư cách người trong cuộc.


Rồi sau đó nữa Triệu Từ Truyền lại bất ngờ mang đến tặng tôi tập thơ khá "nặng ký" với cái tên cũng khá "đau đầu" theo ngôn ngữ của anh: "Va Chạm Hư Không".

Tôi đã đọc hết tập thơ trong những đêm nằm trên ghế salon ở phòng làm việc đến tận khuya để chờ bản in đầu tiên của Báo CATP từ nhà in mang về để kiểm tra lần cuối trước khi cho máy chạy. Qua tập "Va Chạm Hư Không" tôi lại thấy một Triệu Từ Truyền khác những bài thơ anh làm ra trong giai đoạn này đậm chất triết lý siêu hình với ngôn ngữ hòan toàn mới phong cách mới mà không phải dễ đọc không phải đọc một lần là hiểu và nhất là không phải dễ đăng báo dù tôi rất muốn trích ra một vài bài để đăng trên trang VHVN của Báo CATP. Thí dụ bài "Dòng sông đứng":


Có dòng sông đứng không nằm

Sợi nước chừa khoảng không

Bao dung hơn liên hồi tuôn chảy

Cho ấm nắng cỏ cây

Tháng sinh nở cá lên nguồn theo dòng sông đứng

Em dậy thì dạo mát trong mưa

Em bơi trong dòng sông đứng

Cá nhả trứng giữa dòng sông nằm

Dòng sông nằm không phải chẳng bao dung

Nếu ngắt khoảng nghĩa là òng sông chết

Cá nở xa nguồn theo lũ bơi theo phù sa em đi

Lớn lên trong đục dòng đời chia xa nơi cha yên phận

Nơi kia ấm nồng mùa cưới bình lẫn hoa vui buồn núp

Chỗ nọ gió chướng cuồng cây chồi mừng lá giận

Dòng sông đứng rồi dòng sông nằm

Chu kỳ của đi và bơi


4/2000
(trích trong tập Mặt Cắt Cõi Ngoài - x/b 2006)


Thơ luôn gắn liền với cuộc sống của nhà thơ qua mỗi giai đoạn trong suốt cuộc hành trình dài. Tôi biết hành trình trong cuộc sống của Triệu Từ Truyền từ tuổi trẻ đến nay đã trên dưới 40 năm dù ở chặng đường nào cuộc sống cũng tái hiện trong thơ anh như hơi thở và bằng sự dấn thân mãnh liệt. Và mỗi một chặng đường như thế thơ của Triệu Từ Truyền có một ngôn ngữ riêng phong cách riêng.

Chưa nói thơ của anh hay hay dở qua từng giai đoạn sáng tác nhưng chỉ với cách không trộn lẫn mình luôn đổi mới dù với thể loại thơ rất cũ như lục bát Triệu Từ Truyền cũng luôn tìm tòi sáng tạo cải cách từ ngôn ngữ đến nhịp điệu cũng đã là một nhà thơ sống hết mình với thơ tâm huyết với con đường mình đã chọn và tôi nhận thấy Triệu Từ Truyền qua nhiều hình ảnh của một con người sống trọn vẹn một kiếp nhân sinh và ở lúc cuối đời anh cũng không bị lẫn lộn: Triệu Từ Truyền chính xác là hình ảnh của một người làm văn nghệ môt nhà thơ đích thực.


Tôi xin trích dẫn một đoạn thơ lục bát của Triệu Từ Truyền trong bài "Tháng Sinh Nhật - đầu mùa mưa 1998" như là một minh chứng và cũng để thay cho lời kết bài tựa tập thơ này:


Thôi mình ướt đẫm vào mưa

Nắng quay lưng bước em vừa chớm qua

Tháng mừng nóng bỏng lá hoa

Em sinh ra - gió mùa xa ru đời

Ru đời mây nổi mây bơi

Duyên phiêu dạt kiếp rã rời bến sông...


(trích trong tập Mặt Cắt Cõi Ngoài)



TỪ KẾ TƯỜNG



(20 tháng 3 năm 2008)




             
Nhà văn Từ Kế Tường - Nhà thơ Triệu Từ Truyền