TRIỆU TỪ TRUYỀN -- VĨNH BIỆT THẢO PHƯƠNG

By



Nhà thơ Triệu Từ Truyền nhờ tôi đăng lên bài thơ MỖI MÌNH XANH TƯƠI.
Để khóc nữ sĩ Thảo Phương.

Tôi xin đăng bài thơ lên đây.
Thay cho một nén nhang mà nhà thơ Triệu Từ Truyền rất muốn cắm trước bàn thờ của nữ sĩ Thảo Phương.




MỖI MÌNH XANH TƯƠI


(thương tiếc nữ sĩ Thảo Phương)



 

lấp thơ  đầy hố đêm dài

xuôi dòng  cô độc trộn ngày vào mơ

đầu đông bến lạnh ngây thơ

cuối đông nước đỏ gặp bờ biển xanh

thân cỏ biếc vượt đầu gành

lướt về cuối bãi  cũng đành một phương

hai mươi năm trước - dọc đường

đắm thuyền ai cứu - trách phường ngược ngang

thơ không vần  lượn dịu dàng

ngôn từ  tri thức nặng mang thâm tình

mực còn bút gẫy ai tin?

qua chân trời biếc mỗi mình xanh tươi...




 

(Pakse - Nam Lào 21.10.2008)


                                 
Triệu Từ Truyền









More...

TRIỆU TỪ TRUYỀN -- THƠ -- NGÀY XƯA VÀ BÂY GIỜ

By




TRIỆU TỪ TRUYỀN

- THƠ -

NGÀY XƯA VÀ BÂY GIỜ


 

(bài viết của TỪ KẾ TƯỜNG)



Tôi và Triệu Công Tinh Trung (tên thật của một bút danh ngày xưa là Triệu Cung Tinh và Triệu Từ Truyền bây giờ) là bạn học từ năm lớp Đệ Tam (lớp 10 bây giờ) trường Nguyễn Văn Khuê nằm trên đường Nguyễn Thái Học Q1. Trung học Pháp văn là sinh ngữ chính còn tôi học Anh văn nhưng vẫn có những giờ lên lớp học chung với nhau môn Hán văn. Những năm đó nhà Trung ở Q4 bên chân cầu Tân Thuận còn nhà tôi cũng ở Q4 hẻm Lý Nhơn có rạp chiếu bóng Nam Tiến đường Bến Vân Đồn nằm chếch cầu Ông Lãnh non nửa cây số. 

Dạo ấy ngoài giờ học ở lớp ở trường chúng tôi thường gặp nhau lắm và rồi bỗng một hôm chúng tôi phát hiện ra... cả hai cùng làm thơ.

Tất nhiên thơ của Triệu Cung Tinh khác với thơ tôi nhiều những bài thơ của Trung thiên về suy tưởng và có khuynh hướng chính trị dù là thơ tình hay thơ mang màu sắc tranh đấu chống chế độ cũ.

Lứa tuổi của chúng tôi ngày ấy còn quá trẻ chỉ 15-16 nhưng đã có thơ đăng báo lại là những tờ báo văn nghệ có tiếng tăm mà để được chen vào "ngồi chung chiếu" với những tên tuổi lớn khác thật không phải dễ dàng dù không được trả nhuận bút chẳng tờ báo biếu nhưng về mặt tinh thần lại là một sự hãnh diện ngấm ngầm hay được biểu lộ qua tác phong kiêu ngạo khinh bạc. Trung cũng không thoát khỏi tâm lý này và lại là thêm một tính cách khác hẳn với tôi.

Nhưng thật ngạc nhiên là chúng tôi chẳng lấy gì làm nguyên tắc để đố kỵ với nhau trái lại rất thân nhau. Có lẽ lúc ấy chúng tôi còn ở tuổi học trò hồn nhiên trong sáng sống hết mình với thơ ca và tài năng chớm bộc phát. Và đặc biệt hơn chúng tôi là những đứa học trò nghèo quá nghèo không có nổi một chiếc xe đạp chỉ đi bộ hoặc cùng lắm là leo xe buýt. Nhưng thơ thì thật chí tình hào sảng.


Vào những năm đó Triệu Cung Tinh đã có bài "Chưa Tới":


Tay
tôi sao chẳng chịu dài

Giữa khi tình ái những ngày lên cơn

Tuổi thanh xuân vội tủi hờn

Hụt em núi với đã mòn sức hơi

Bàn tay chết đuồi rã rời

Cỏ hoa xưa đã ngậm lòi chiến tranh

Điêu tàn trời đất ngày xanh

Biến tan thân thể nguyên lành thiếu niên

Còn đây tĩnh vật ưu phiền

Bao giờ chân bước khỏi miền hoang vu


6/1963
(trong tập Đêm Lên Cơn Dài - x/b1965)


Tất nhiên trong cuộc sống không bao giờ có sự bình lặng như quy luật vốn có sẵn của nó. Thảm họa cháy nhà ở quận 4 khiến tôi phải thay đổi chỗ ở về tận Nhà Bè (Q7 bây giờ) Trung cũng thế về Gia Định (Bình Thạnh ngày nay). Rồi những năm sau đó khi tốc độ đổ quân của Mỹ vào chiến trường miền Nam nhanh hơn dày đặc hơn thì đường phố Sài Gòn cũng đầy đặc lính Mỹ. Tôi cũng rời Nhà Bè về ở Thị Nghè một căn nhà mướn trong một hẻm sâu ở xóm Cầu Ván luôn luôn sôi động vì tệ nạn xã hội và những cuộc bố ráp của lính.

Thời điểm này phong trào chống đối chiến tranh chống Mỹ-Diệm nổi lên mạnh mẽ không chỉ ngoài đường phố mà lan vào các trường học. Trường Nguyễn Văn Khuê lúc đó là trường tư thục nhưng cũng tham gia phong trào này rất sôi nổi chúng tôi thường xuyên "bãi học" để tham gia phong trào có những hôm bàn ghế trong lớp được tập trung ném xuống sân trường học sinh đốt cả bảng đen và có những tiếng nổ của bom tự tạo.

Một hôm Trung rủ tôi làm báo tường tờ báo tường mang tên "Bình Nguyên" ra đời chỉ có tôi và Trung thực hiện trong một đêm nhưng đầy đủ tin thời sự và thơ văn rất "máu lửa". Tờ báo khổ rộng giấy Croqui trình bày đẹp và ấn tượng được dán trong sân trường ngay chỗ trung tâm từ cổng trường bước vào. Đây là một sự kiện lớn (cộng với việc Trung được bầu là trương đại diện học sinh -1963) sau đó Trung bị đuổi  phải chuyển học trường khác còn tôi chỉ ngồi lại đến năm Đệ Nhị (lớp 11 bây giờ) rồi cũng phải chuyển về trường Nguyễn Thượng Hiền ở đường Trần Qúy Cáp Q3 (Võ Văn Tần ngày nay).


Một trong những bài thơ vào thời kỳ ấy của Triệu Cung Tinh đã nói lên phần nào tâm trạng của tuổi trẻ chúng tôi trong không khí hừng hực lửa khói đấu tranh trong thân phận của của miền Nam nổi chìm của thành phố Sài Gòn đầy biến động và của tình yêu một thời thiết tha mơ ước. Đó là bài "Tỏ Tình":


Tuổi trẻ giống cụm mây đen đỉnh núi

Phủ mịt mờ trên chót vót rừng xanh

Những tia sáng phóng từ lòng hân tủi

Thấy em là viên đá sắp xây thành

Dòng suối xuôi cá lội ngược như anh

Mang dũng cảm khắp châu thân tình ái

Cồng sắt xiết bàn chân chiều thứ bảy

Kinh thành xa em cũ của quê hương

Anh vẫy vùng vì réo rắt yêu thương

Môi em đỏ mắt em buồn thưa thớt

Tuổi trẻ là rừng xanh cao chót vót

Dòng suối cuồng kéo quỵ cả cỏ cây

Anh đấu tranh giữa giọt sáng trong mây

Thì xương máu thì em thành con nước

Đất mềm dẻo mọc tóc rừng xanh mướt

Phải không em mưa nắng của miền Nam


10/1964
(trong tập Đêm Lên Cơn Dài)


Từ khi về ở Thị Nghè chúng tôi có thêm người bạn mới đó là Nguyễn Tôn Nhan (lúc ấy còn ký là Trần Hồng Nhan) chúng tôi thường hẹn nhau ở bến xe buýt bên hông Bưu Điện Gia Định vào lúc sáng sớm rồi cùng xuống Sài Gòn... uống cà phê ngồi mãi ở quán cà phê Kim Sơn nằm ở góc đường Nguyễn Trung Trực - Lê Lợi bàn chuyện làm báo bình luận văn nghệ chán chê rồi sang đọc báo "cọp" ở quầy báo của cô Nga ốm cạnh quầy nhạc Mạnh Phát.

Tuổi còn trẻ mê văn nghệ và dĩ nhiên phải làm báo nhưng chúng tôi hồi ấy chỉ có tinh thần là chính còn tiền bạc thì không. Làm báo ở đây là làm... báo lậu tự bỏ tiền ra in tự phát hành và biết rằng làm báo kiểu bộc phát ngẫu hứng như thế sẽ không sống nổi nhưng không hiểu sao đứa nào cũng hăng say. Và rồi chúng tôi làm thật Trung đứng ra chủ trương tờ "Bộ Lạc Mới" ngôi nhà mướn của tôi trong con hẻm nhỏ xíu ở Thị Nghè được dùng làm "toà soạn" trương bảng hiệu lên đàng hoàng. Tờ báo được in Ty-pô chỉ 1 trang giấy khổ 1m X 65 cm gấp tư thế nhưng cũng đầy đủ tuyên ngôn tiểu luận thơ văn... và chỉ ra duy nhất được 1 số thì... hết tiền. Báo ngưng nhưng bảng hiệu còn chỉ là tên tờ báo vẽ bằng sơn xanh trên một mảnh thiếc cỡ bảng số xe gắn máy đóng ở góc tường của nhà tôi nhưng khiến bà chủ nhà (không biết chữ) tưởng đó là khẩu hiện gì ghê gớm để chống đối chế độ cũ thế là bà bắt tôi gỡ xuống nếu không bà sẽ lấy nhà lại.

Sau đó Trung in tập thơ đầu tay "Đêm Lên Cơn Dài" ký là Triệu Cung Tinh một tập thơ mỏng nhưng gồm nhiều bài thơ mà tôi cho là rất xuấc sắc thể hiện được tài hoa của Trung ngay cả về sau này khi Trung đã là Triệu Từ Truyền có nhiều tập thơ giá trị sâu sắc ý tưởng chặt chẽ kỹ thuật hơn nhưng tôi vẫn không thích bằng những bài thơ bay bổng tài hoa trong tập thơ đầu đời của Trung (và cũng chính vì thế nên tôi đã giới thiệu tập thơ này trên tờ Nghệ Thuật một tờ tuần báo văn nghệ có giá trị trước năm 1975 với bút danh Cung Nhự Thức - lúc đó tôi mới vừa 20 tuổi đang trốn lính còn Trung thì đã vào chiến khu).

Thời gian trước đó chúng tôi còn làm thêm một tờ báo nữa là tờ "Đất Đứng" đây là một tập san văn nghệ khổ 13X19 khá dày do Tô Thùy Nghiêm - một người bạn văn nghệ khác của chúng tôi bỏ tiền ra làm tôi Triệu Cung Tinh Nguyễn Tôn Nhan (lúc đó còn ký là Trần Hồng Nhan) là những người viết biên tập chủ lực và tờ tập san này cũng chỉ ra được đúng 1 số là hết tiền không in tiếp được nữa.


Thế rồi Trung tham gia cách mạng vào chiến khu như một chuyện tất yếu phải đến. Tôi không thể tiếp tục học nữa vì thi rớt Tú tài và phải tự kiếm sống. Trong nhóm bạn thân cùng trang lứa tôi là người phải ra đời sớm và cũng chính vì thế nhảy vào làng báo sớm nhất khi chỉ mới ở tuổi 19. Vừa làm báo vừa viết văn may mắn làm sao sách của tôi lại bán rất chạy ngay ở tác phẩm đầu tay là cuốn truyện dài "Huyền Xưa".

Giai đoạn này ngôi nhà nhỏ ở Thị Nghè tôi thuê tập trung khá nhiều bạn bè văn nghệ. Ở Huế vào có Nguỵ Ngữ Mường Mán. Ở Quy Nhơn có Đặng Tấn Tới ở Đà Nẵng có Phương Tấn ở Tam Kỳ có Huy Tưởng và Cung Văn ( Nguyễn Vạn Hồng) Cung Tích Biền cũng đã tìm gặp tôi ở đây. Nói chung anh em văn nghệ ở các nơi kể cả miền Tây lên như Phạm Tuế Biên Hòa xuống như Tô Thùy Nghiêm ( Nguyễn Thiếu Nhẫn) đều ghé... và tất nhiên thường trực có Trần Hồng Nhan. Riêng Triệu Cung Tinh thỉnh thoảng có ghé đến và ngủ lại vài đêm thời gian này Trung ở đâu tôi không rõ nhưng tôi biết Trung đã qua vài nhà tù vì bị bắt trong lúc hoạt động. Đêm Trung trải chiếu ngủ dưới nền xi măng dù nhà vẫn có giường cho Trung ngủ và bạn bè của tôi dù thân hay chỉ mới quen nhưng đã tới nhà thì má tôi vẫn xem như con và rất dễ tính chẳng bao giờ bà phàn nàn gì chuyện bạn bè của con.

Giai đoạn này Trung lại rủ tôi làm tờ "Vùng Lên" một tờ báo lậu của phong trào Sinh viên - Học sinh Sài Gòn đấu tranh chống chế độ Mỹ-Thiệu. Trung và tôi ôm báo đi... ký gửi ở các sập báo ngoài đường Lê Lợi liều lĩnh đến thế nhưng không hiểu sao tôi và Trung lại lọt qua được mạng lưới theo dõi của công an chìm thời đó. Nhưng tờ "Vùng Lên" cũng chỉ phát hành được một vài số rồi cũng ngưng. Trung lại đi lại về rủ tôi làm tờ báo khác in ở một nhà in nằm trên đường Trần Kế Xương - Gia Định. Tất nhiên báo đấu tranh chống chế độ cũ công khai. Sau bị bể Trung đổi sang một nhà in gần đấy trên một con đường heo hút khác thuộc địa bàn Gia Định.

Tôi còn nhớ một hôm đến nhà in sửa bài thấy thầy thợ vắng hoe chủ nhà in không có mặt tưởng báo in ở đây bị lộ Trung và tôi đang lo thì bà vợ ông chủ nhà in ra giải thích lý do chồng mình phải đi "tị nạn" vì ông Nguyễn Đức Sơn (tức nhà thơ Sao Trên Rừng) có đặt in một tập thơ do thợ xếp chữ xếp nhằm sao đó khiến Nguyễn Đức Sơn... vác dao tới rượt ông chủ để chém làm ông này phải chạy trốn.


Phải nhắc lại những kỷ niệm như thế để thấy rằng Trung là một người rất say mê làm báo dù lúc đó là công tác được giao hay tự nguyện hoặc bộc phát Trung vẫn làm với niềm say mê như có sẵn trong máu và lý tưởng một thời tuổi trẻ của mình. Hết làm báo ở tù khi ra hoạt động lại Trung lại đến nhà tôi ở ít hôm và rồi lại biến mất.

Một lần hình như là sau năm 1972 chiến tranh trở nên khốc liệt hơn mà báo chí lúc bấy giờ gọi là "mùa hè đỏ lửa" một hôm Trung xuất hiện với mấy người bạn và nhờ tôi mua giúp một cái máy đánh chữ để đem vào khu. Máy đánh chữ dạo ấy mua không khó bán đầy ở các nhà sách đường Lê Lợi có tiền là mua được nhưng mua để mang vào khu thì rất nguy hiểm. Tôi nêu thắc mắc này ra thì những người bạn đi cùng với Trung bảo đảm rằng sẽ mang đi an toàn. Ít ngày sau đúng hẹn Trung và mấy người bạn đến nhà máy đánh chữ có sẵn để Trung mang vào khu.


Từ ấy tôi không còn gặp Trung nữa nhưng sau đó biết Trung bị bắt đày ra Côn Đảo và rồi sau Hiệp định Paris Trung được trao trả ở Lộc Ninh biết Trung thoát khỏi ngục tù Côn Đảo và còn sống tôi rất mừng.


Sau ngày giải phóng 30-4-1975 Trần Hồng Nhan (lúc này công tác ở Ban Văn hóa - Thông tin Q4) có gặp tôi ở quán cà phê lề đường Nguyễn Bỉnh Khiêm báo tin Triệu Cung Tinh về công tác ở quận 4 có nhắn tôi qua chơi. Nhưng lúc ấy tôi lại phải lo chống chọi với một gia đình nhiều miệng ăn trong cơn khủng hoảng về mặt tinh thần cũng như kinh tế nên mãi một thời gian sau qua lời Trần Hồng Nhan tôi mới gặp lại Trung và về công tác ở Ban Văn hóa -Thông tin quận 4 với anh Nguyễn Khắc Vỹ (Ba Khanh).


Lúc này Trung giữ chức Phó chủ tịch UBND Q4 phụ trách Văn Xã chúng tôi chỉ mới trên dưới 30 tuổi và Trung được xem như một cán bộ lãnh đạo cấp quận trẻ nhất lúc bấy giờ. Còn tôi sau một thời gian công tác ở nhiều vị trí được giao phụ trách Nhà Văn Hóa Q4.

Trong các loại hình hoạt động của Nhà Văn Hóa cấp quận có hoạt động của các Câu lạc bộ mà Câu lạc bô Thơ - Văn của Nhà Văn Hóa Q4 được xem là mạnh nhất. Trong những buổi sinh hoạt định ký của Câu lạc bộ Thơ - Văn này Trung đều đến dự không với tư cách của người phụ trách Văn Xã mà với tư cách của một nhà thơ.

Tôi hơi ngạc nhiên với những bài thơ tình mới làm của Triệu Cung Tinh ký dưới bút danh mới là Triệu Từ Truyền. Những bài thơ ấy đã được chính tác giả đọc trước buổi sinh hoạc của Câu lạc bô Thơ - Văn quy tụ nhiều cây viết trẻ của Q4 cũng như nhiều tác giả đã thành danh công tác ở Q4 như: Lý Minh Cao Quảng Văn Trần Dạ Lữ Nguyễn Tôn Nhan (Trần Hồng Nhan) Lưu Ngọc Vang... và những khách mời là bạn bè thân hữu bởi quan hệ của anh Nguyễn Khắc Vỹ và tôi tương đối rộng. Tôi nhớ có cả Hoàng Phủ Ngọc Tường Nguyễn Trọng Oánh Hoàng Phủ Ngọc Phan Hoài Vũ Diệp Minh Tuyền Trần Hữu Lục...


Tôi còn nhớ một hôm Triệu Cung Tinh (bây giờ đã ký là Triệu Từ Truyền) mang đến Nhà Văn Hóa (tôi làm việc và ở luôn tại đây) đưa cho tôi mấy bài thơ anh mới sáng tác hầu hết là thơ tình. Thơ của Trung bấy giờ với giọng điệu thiết tha mà trong trẻo đọc thơ tôi biết ngay Trung đang yêu và lại có một tình yêu lớn (đối với nhà thơ tình yêu nào cũng lớn cả chỉ có lớn trước hoặc lớn sau mà thôi).

Nhưng lớn ở đây có nghĩa bên cạnh công việc căng thẳng của thời kỳ đầu những năm sau giải phóng đặc biệt trong giai đọan thiếu thốn khó khăn của thời bao cấp cán bộ ăn theo tiêu chuẩn công tác ngập đầu đấu tranh nội bộ mêt óc ngoài lý tưởng cách mạng ra nếu không có một tình yêu làm người ta yêu đến thiết tha để làm một chỗ dựa tinh thần tự điều chỉnh những giây phút mất thăng bằng trong tâm tưởng thì sẽ rất dễ bị stress hoặc khủng hoảng tâm lý. Nhưng những bài thơ tình trong trẻo câu chữ mật ngọt của Trung làm cho một người con gái nào đó khiến tôi rất mừng. Và mừng nhất thấy Trung còn làm thơ được trong cương vị của một lãnh đạo chính quyền cấp quận kiêm cả Trưởng ban kế hoạch thì thật đáng quý.

Một trong những bài thơ dạo ấy Trung đưa tôi xem khiến tôi đặc biệt chú ý là bài "Dòng Suối" một bài thơ 5 chữ mà rất tiếc tôi không nhớ hết cả bài thơ. Tất nhiên tôi còn nhớ tên bài thơ cũng là tên người phụ nữ mà Trung yêu.


Triệu Công Tinh Trung Triệu Cung Tinh hay Triệu Từ Truyền vẫn chỉ là một con người. Nhưng con người ấy không thể phân thân một nửa này làm chính trị một nửa kia làm văn nghệ. Nếu Trung là một người làm chính trị thì con đường hoạn lộ của anh chắc có lẽ sẽ thênh thang bởi lúc ấy Trung là một cán bộ lãnh đạo quận tuổi trên dưới 30 học hành đàng hoàng tốt nghiệp trường Đảng N.A.Q. ra. Nhưng trong con người ở cương vị chính trị ấy lại có một nửa kia là văn nghệ đầu óc phóng khoáng có tài năng và cá tính lẫn một chút kiêu ngạo nói năng thẳng thắn đấu tranh gay gắt với những trì trệ và thói quan liêu nạn bè cánh của những cán bộ cùng cấp tuổi đời lớn hơn mà thiếu sự mềm dẻo nên dễ mất lòng và không thu được thiện cảm. Do đó Trung bị cô lập và bấy giờ người ta mới tìm ra những sơ hở trong sinh hoạt và phong cách sống nghệ sĩ của Trung trong thời kỳ đầu những năm chưa đổi mới để đẩy anh đi. Và một khi người ta muốn tìm ra lý do để phê phán với ác ý thì thiếu gì lý do và thiếu gì dịp.


Nhưng không sao Trung đã nhân dịp ấy để từ bỏ môi trường không phải của mình và trở về với văn nghệ thứ đam mê như là máu thịt của anh từ thời niên thiếu.

Những năm sau này anh mới thật sự là Triệu Từ Truyền yêu hết mình sống hết mình ngao du hết mình và viết cũng hết mình. Triệu Từ Truyền đã yêu như là sống và viết để sống như không thể chết.

Triệu Từ Truyền rời quận 4 trước tôi vài năm và đến năm 1986 tôi cũng rời quận 4 chuyển ngành về CATP và công tác ở Báo CATP. Phải nói là thời gian đó chúng tôi ít gặp nhau hình như Triệu Từ Truyền dành thời gian để đi và viết. Còn tôi làm báo và viết.

Rồi một hôm bất ngờ Triệu Từ Truyền mang tới tặng tôi một tập sách mới vừa in xong cuốn sách khá dày có thể gọi đó là truyện dài cũng được tùy bút tạp văn ký sự hay hồi ký cũng xong nhưng tôi thấy thấp thoáng trên những trang sách ấy là một phần đời của bạn tôi trên một vùng đất hào khí mà khắc nghiệt. Tôi quên tựa sách là gì nhưng biết rất rõ những câu chuyện trong ấy là chuyện thật bởi vì tôi đã cùng sống cùng chia sẻ với bạn tôi qua một giai đoạn thăng trầm nhiều biến động và đầy tâm trạng nên để lại dấu ấn đậm nét với tư cách người trong cuộc.


Rồi sau đó nữa Triệu Từ Truyền lại bất ngờ mang đến tặng tôi tập thơ khá "nặng ký" với cái tên cũng khá "đau đầu" theo ngôn ngữ của anh: "Va Chạm Hư Không".

Tôi đã đọc hết tập thơ trong những đêm nằm trên ghế salon ở phòng làm việc đến tận khuya để chờ bản in đầu tiên của Báo CATP từ nhà in mang về để kiểm tra lần cuối trước khi cho máy chạy. Qua tập "Va Chạm Hư Không" tôi lại thấy một Triệu Từ Truyền khác những bài thơ anh làm ra trong giai đoạn này đậm chất triết lý siêu hình với ngôn ngữ hòan toàn mới phong cách mới mà không phải dễ đọc không phải đọc một lần là hiểu và nhất là không phải dễ đăng báo dù tôi rất muốn trích ra một vài bài để đăng trên trang VHVN của Báo CATP. Thí dụ bài "Dòng sông đứng":


Có dòng sông đứng không nằm

Sợi nước chừa khoảng không

Bao dung hơn liên hồi tuôn chảy

Cho ấm nắng cỏ cây

Tháng sinh nở cá lên nguồn theo dòng sông đứng

Em dậy thì dạo mát trong mưa

Em bơi trong dòng sông đứng

Cá nhả trứng giữa dòng sông nằm

Dòng sông nằm không phải chẳng bao dung

Nếu ngắt khoảng nghĩa là òng sông chết

Cá nở xa nguồn theo lũ bơi theo phù sa em đi

Lớn lên trong đục dòng đời chia xa nơi cha yên phận

Nơi kia ấm nồng mùa cưới bình lẫn hoa vui buồn núp

Chỗ nọ gió chướng cuồng cây chồi mừng lá giận

Dòng sông đứng rồi dòng sông nằm

Chu kỳ của đi và bơi


4/2000
(trích trong tập Mặt Cắt Cõi Ngoài - x/b 2006)


Thơ luôn gắn liền với cuộc sống của nhà thơ qua mỗi giai đoạn trong suốt cuộc hành trình dài. Tôi biết hành trình trong cuộc sống của Triệu Từ Truyền từ tuổi trẻ đến nay đã trên dưới 40 năm dù ở chặng đường nào cuộc sống cũng tái hiện trong thơ anh như hơi thở và bằng sự dấn thân mãnh liệt. Và mỗi một chặng đường như thế thơ của Triệu Từ Truyền có một ngôn ngữ riêng phong cách riêng.

Chưa nói thơ của anh hay hay dở qua từng giai đoạn sáng tác nhưng chỉ với cách không trộn lẫn mình luôn đổi mới dù với thể loại thơ rất cũ như lục bát Triệu Từ Truyền cũng luôn tìm tòi sáng tạo cải cách từ ngôn ngữ đến nhịp điệu cũng đã là một nhà thơ sống hết mình với thơ tâm huyết với con đường mình đã chọn và tôi nhận thấy Triệu Từ Truyền qua nhiều hình ảnh của một con người sống trọn vẹn một kiếp nhân sinh và ở lúc cuối đời anh cũng không bị lẫn lộn: Triệu Từ Truyền chính xác là hình ảnh của một người làm văn nghệ môt nhà thơ đích thực.


Tôi xin trích dẫn một đoạn thơ lục bát của Triệu Từ Truyền trong bài "Tháng Sinh Nhật - đầu mùa mưa 1998" như là một minh chứng và cũng để thay cho lời kết bài tựa tập thơ này:


Thôi mình ướt đẫm vào mưa

Nắng quay lưng bước em vừa chớm qua

Tháng mừng nóng bỏng lá hoa

Em sinh ra - gió mùa xa ru đời

Ru đời mây nổi mây bơi

Duyên phiêu dạt kiếp rã rời bến sông...


(trích trong tập Mặt Cắt Cõi Ngoài)



TỪ KẾ TƯỜNG



(20 tháng 3 năm 2008)




             
Nhà văn Từ Kế Tường - Nhà thơ Triệu Từ Truyền



More...

SƠN NAM PHÙ SA GIỮ VƯỜN -- TRIỆU TỪ TRUYỀN

By



 
 


 




 

SƠN NAM
phù sa giữ vườn





TRIỆU TỪ TRUYỀN



1962 tôi nhìn thấy nhà văn Sơn Nam lần đầu tiên không ở trong một phòng khách cũng chẳng phải trên một chuyến tàu xe. Ông đứng ở vĩa hè gần tòa soạn báo Sài Gòn Mới đối diện với trạm trung tâm xe buýt Sài Gòn Gia Định thường gọi là ga Dziên Hồng. Hồi ấy ông đã nổi tiếng là nhà văn đi bộ. Tôi là một học sinh lớp đệ ngũ (lớp 8) mê làm thơ nên thường lưu ý đến bậc đàn anh. Dọc theo vĩa hè có nhiều quầy bán viết pilot paker cũ... xen với nhiều quầy sửa kính đồng hồ kể cả chơi cờ thế ăn tiền. Ông thường lui tới vì có một tác giả làm thơ là chủ quầy bán các loại viết mực kể trên; còn tôi ngoài giờ vào lớp cũng thường la cà tới chỗ đó. Tôi ngưỡng mộ ông với tập truyện Hương Rừng Cà Mau.

Sau 1975 có những năm tôi được thường xuyên gặp nhà văn Sơn Nam và cũng nhiều năm vài ba tháng tôi mới thăm hỏi ông được một lần.

Lẽ ra tôi phải gọi ông bằng chú hay bác: ông nhiều hơn tôi hai mươi mốt tuổi nhưng vì nòi văn chương nên thân thuộc như trang lứa. Ông rất cởi mở những suy nghĩ của mình với đàn em như với bạn:

Có lần ông nói với tôi một số nhà văn nghiện học thuật viết văn mà ngồi tầm chương trích cú nói lại những điều sách vỡ đã cũ nói rồi gọt dũa màu mè đủ cách thì sao gọi là sáng tạo!

Đúng vậy nên văn của ông bập bềnh thủy triều sông rạch Nam bộ; và những suy nghĩ dản dị của nông dân mở cõi khai hoang lập nghiệp.

Lần khác ông thấy có vài cây bút mới cho ra lò một sáng tác lại được các phương tiện quảng cáo như thiên tài nhà văn lớn... Ông nói nhỏ với tôi: nhà văn thật sự là phải viết bền không phải làm kiểu mì ăn liền.

Vì vậy văn ông không nêu chuyện giật gân; không kết cấu cầu kỳ không triết lý vụn mà thấm đẩm hai đợt mưa nắng của gió mùa nhiệt đới; và không bị khuôn mẫu của học thuyết hay giáo điều nào áp đặt được những trang văn ông viết.

Trong một lần phát biểu về một nhà thơ thế hệ sau trên sóng truyên hình ông nhắc nhở đã đến lúc nên nhìn nhận thành tựu thơ của lớp sau không chỉ ngày nào cũng ngâm nga thơ của mấy tác giả đàn anh thời trước.

Nhà văn Sơn Nam chưa hề lấy bóng của mình để đè lớp sau như biết bao nhà văn khác xem đó là chuyện thường tình đôi khi họ còn cho rằng đó là quyền lực đương nhiên.

Nhà văn Sơn Nam một cây bút lớn trong hậu bán thế kỷ 20 là phù sa cùa những cánh đồng mới vừa lấn biển vừa cho gạo thơm và trái ngọt.



Lăng Ông Bà Chiểu ngày 14/8/2008


Tạm Biệt Sơn Nam


thân cây Đước đứng giữa đời
sóng thần bảo dữ không trôi đất lành
rừng tràm đâm tược tiễn anh
tang thương ngập nước rừng xanh bưng biền
hương phương nam tỏa ưu phiền
xuồng ba lá ngắt bông điên điển vàng
đôi chân lê dép trên ngàn
bước vào phộ chợ cưu mang chơn tình
bước qua lộ nhựa bất bình
anh về thanh thản lục bình trổ bông
anh hòa trong nước tràn đồng
phù sa bồi lấp cửa sông giữ vườn.




TRIỆU TỪ TRUYỀN



More...

NHÀ THƠ TRIỆU TỪ TRUYỀN BỊ MẤT TRỘM...

By



NHÀ THƠ TRIỆU TỪ TRUYỀN BỊ MẤT TRỘM...



Nhà thơ Triệu Từ Truyền mới thông báo việc ông bị mất trộm như sau:


Đêm 4 rạng ngày 5 tháng tám 2008 kẻ trộm leo vào tầng một lấy cấp máy vi tính xách tay và một bao đựng máy. Bao đựng máy còn được sử dụng như cái cập chứa văn bản; chứng từ; sổ tiết kiệm; séc trả tiền... và nhiều vật dùng linh tinh khác. Cụ thể tổn hại như sau:

-Máy tính xách tay khá cũ (sx1997) hiệu Compak nhưng nó giúp  sáng tác làm việc trong mấy năm qua chứa nhiều dữ liệu cần thiết có truyện dài viết nửa chừng; đề cương chi tiết hồi ức viết suốt thế kỷ 20; nhập liệu hơn 200 bài thơ đã đăng báo  từ năm 1963 đến nay; hơn 30 bài viết về thơ Triệu Từ Truyền  của các nhà thơ nhà văn nhà phê bình văn học; thơ chuyển ngữ sang tiếng Anh và nhiều văn bản khác.... Mất luôn  ba USP chứa gần đầy tác phẩm;

-Một Hộ Chiếu số B1781501 cấp ngày 10/12/2007 có giá trị 10 năm của Cục Quản Lý XNC; ( một hộ chiếu công vụ hết hạn sử dụng và một hộ chiếu  số: A 0816563 B cấp ngày 12/8/2003  đã được đổi hộ chiếu đang sử dụng)

-Hai sổ tiết kiệm  SACOMBANK;  một quyển Séc  thuộc NH ANZ;

-tiền mặt: 1700 USD; 13 triệu VN đồng; 2 triệu Kíp Lào;

-Hai nhẫn vàng + bạch kim; đính đá  saphia đỏ theo thời giá ước 14 triệu đồng;

-Giấy đăng ký xe Ô Tô hiệu Peujoe; và nhiều giấy tờ khác như : thẻ  hưu trí thẻ hôi viên Hội Nhà văn... và  vật dùng tùy thân khác.



More...

LẤN CHIẾM VĨNH HẰNG TRONG THƠ YVES BONNEFOY - TRIỆU TỪ TRUYỀN

By


LẤN CHIẾM VĨNH HẰNG TRONG THƠ YVES BONNEFOY



CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM CỦA YVES BONNEFOY



 






Sinh năm 1923 tại Tours (Pháp)
Học trung học rồi toán học và triết học tại Tours Potitiers và Paris
Nhiều công trình về hình dạng và khoảnh khắc của thi pháp
Từ 1960 đã được mời dạy tại nhiều viện Đại học
Giáo sư tại học viện Pháp từ 1981 tới 1993


NHỮNG TÁC PHẨM CHÍNH ĐÃ XUẤT BẢN

1. THƠ
: Chuyên luận của người chơi dương cầm 1946. Vận động và bất động của Douve 1953. Hôm qua sa mạc ngự trị 1958. Viết trên đá 1965. Trong sự lừa dối của ngưỡng vào 1975. Cái không có ánh sáng 1987. Truyện kể trong mơ 1987. Nơi mũi tên rơi 1988. Cuộc sống lang thang 1993...

2. TIỂU LUẬN :
Cái không chắc chắn 1959. Arthur Rimbaud 1961. Một giấc mơ ở Mantoue 1967. Sự thật lời nói 1988. Nói chuyện về thơ 1990. Ghi nhận về hình họa 1993...


Bên cạnh thơ Đường Trung Quốc có thơ thời Phục Hưng của Pháp gần gũi với độc giả Việt Nam. Thơ của các nước khác được giới thiệu chưa đủ thấm đẫm tâm hồn Việt Nam. Đối với thơ cuối thế kỷ 19 và 20 của Pháp chỉ số ít những người làm thơ và quan tâm đến thơ mới tiếp cận. Dù trong bối cảnh lịch sử nào nguời thích mới và lạ không nhiều người hiểu đúng mới lạ càng hiếm hoi.

Riêng với thơ từ xưa đến nay người bắt chước viết theo phong cách của nước bạn thường chỉ cố làm giống hình thức. Họ tưởng làm thơ như đóng xe ôtô cứ đóng thùng xe cho giống là yên tâm (vì máy xe sẽ nhập). Thơ không phải là sản xuất vật thể. Hình thức dùng tân hay cổ là chuyện nhỏ. Ngay từ giữa thế kỷ 19 Nguyễn Văn Siêu đã viết : "Cái tô sức ở bên ngoài (hình thức) thì bên trong tàn tạ ; cái vun đắp ở bên trong (nội dung) thì bên ngoài tốt tươi. Đó gọi là cái lớn (bên trong) thì đủ sức bao dung cái nhỏ mà cái nhỏ không đủ sức nâng đỡ cái lớn".





Như vậy học ở người khác trước hết nên suy ngẫm cái lớn cái bên trong. Cao Bá Quát từng phàn nàn thơ sáo rỗng : "Có thể nghìn bài chứa đầy bể khổ hầu hết đã cạn khô ruột ham được khoe (văn vẻ) nhiều không quan hệ gì đến tính tình cả..." Tô Đông Pha bàn về cách viết có nói: Không học là hơn : Ai hiểu được ý ấy thì có thể cùng nói chuyện và việc làm thơ được".

Vậy dịch thơ của ngôn ngữ khác có nên chăng? Nhà thơ Pháp Yves Bonnefoy trả lời rất xác đáng : "Việc dịch thơ nhận ra và làm nổi bật tính thống nhất của THÂN PHẬN CON NGƯỜI". Dịch không phải chỉ là mô phỏng bề mặt của lời chữ. Phương Đông và phương Tây bao giờ đều chỉ một thông điệp về thơ.

Thân phận con người trong thơ Yves Bonnefoy đã hiện thể đến mức nào mà nhà thơ Pháp này được giới thiệu là ứng viên của giải thưởng văn học Nobel ? Yves Bonnefoy sinh năm 1923 tại Tours Pháp đã học toán và triết học. Ông đã đi xuyên qua các trường phái và trào lưu văn học thế kỷ 20 của Pháp (tượng trưng; dada; siêu thực; hiện sinh; cấu trúc; hậu hiện đại...) để còn lại phong cách độc đáo của mình. Kiểu tư duy Yves Bonnefoy: Người lái đò / bằng cây sào ưu tư / đụng vào vai anh / trong bóng đêm che phủ / anh vô vọng dò tìm / tận đáy sông sâu.

Con người sống là dò tìm không chỉ trượt dài trên lối mòn dù đó là tiến trình của xã hội hoặc con đường thi ca. Ấy là thân phận cô đơn của lữ khách chân chính.

Trong bài Nghệ thuật thi ca (Art de la posésie) : ...trái tim hữu thể / có quỷ dữ trong mạch máu / vừa trốn chạy vừa kêu la / có trong miệng tiếng nói buồn đẫm máu / được lau sạch rồi nói tiếp.

Yves Bonnefoy bị cho là viết khó hiểu vì sự động não ước lệ và lười biếng. Nếu biết san sẻ ký ức mở cửa tâm linh sẽ gặp lời đồng điệu nêu trên. Trong thi ca trái tim chính là hữu thể (L être) sự tồn tại nền tảng song khi bơm máu đi trong các đường gân thớ thịt phải điên cuồng bạo liệt như loài quỷ. Đó là một trực cảm vô thường chuyển hoá giữa lành và dữ giữa đẹp và xấu; giữa nhân tính và thú tính... Tục ngữ Việt Nam có ý tưởng tương đương : "Một lời nói là một đọi máu". Câu thơ là tiếng nói được cân lừơng với máu.





Trong bài Gửi giọng hát KATHELEEN FERRJER (à la voix de Katheleen Ferrjer) Yves Bonnefoy đã chứng nghiệm được những thành tựu của vật lý hạ nguyên tử các hạt dao động của sóng âm thanh trôi giữa hai bờ :

Dường như em hiểu hết hai bờ / tột bậc sướng vui và khổ đau cùng cực / ngoài kia giữa những cây sậy xám trong ánh sáng / dường như em lấn chiếm vĩnh hằng.

Dù là nhỏ bé như một cây sậy những người tài hoa vẫn lấn chiếm được vĩnh hằng. Có thể trích thơ của Yves Bonnefoy mãi vì đến nay đã có hàng chục tác phẩm đã xuất bản. Trong giới hạn bài viết này Yves Bonnefoy là một gợi ý về vài việc dính dáng đến thi ca.

Suy đến cùng những lời chữ của Cao Bá Quát và Nguyễn Văn Siêu ở phần đầu bài viết giúp người làm thơ soi rọi lại chính mình. Nếu ở thế kỷ 21 mà chỉ làm thơ như ở thế kỷ 13 15 hay 17 thì không nên làm vì thời đại nào cũng có đỉnh cao thi ca của nó bắt chước y như cũ không thể hay hơn được dẫn đến ước lệ nhàm chán. Đồng thời bắt chước làm mới theo kiểu hình thức nào đó giống như ghép nhiều sợi chỉ dọc với nhau không có sợi chỉ ngang của tâm tư tình cảm không thể dệt được tấm lụa thơ óng ả.





Hơn nữa ai chỉ làm thơ vì cái gì ở bên ngoài nội tâm thì không thể có sáng tạo. Đúng như Rainer - Maria Ricke từng khuyên nhủ : "Tìm lý do bắt buộc ông phải viết tìm xem nó có cắm rễ vào những nơi sâu kín của tâm hồn ông không ; hãy tự thú nhận với mình xem ông có chết khi bị cấm viết hay không ?" . Những nhân tài thi ca đều trả lời dứt khoát được câu hỏi triệt để này trong đó có Yves Bonnefoy:

Và đôi mắt hắn nhắm / với tấm thân trần truồng / miệng lại đòi muối mặn / không cần lời chữ suông.

Bút pháp của mỗi dân tộc mỗi nhà thơ là dấu vân tay của họ. Vì vậy đừng nên mù quáng bắt chước phong cách mà chỉ nên san sẻ thân phận con người trong thi ca nhân loại.




trong NHỮNG CHỮ QUA CẦU TÂM LINH
do Nhà X.B. Văn Học xuất bản- 2008.


TRIỆU TỪ TRUYỀN




http://newvietart.com











More...

CHUYẾN BUÝT ĐÊM -- thơ TRIỆU TỪ TRUYỀN

By



CHUYẾN BUÝT ĐÊM




    giữa đêm anh lên chuyến buýt ở Santa Barbara
    mỉm cười với cô gái da đen ngồi bên ghế trống
    nàng ngước lên đầy nghi ngại
    rồi trùm chăn ngủ tiếp
    nàng vờ ngủ kín đáo liếc nhìn:
    chàng là người ở bờ bên kia của đại dương...



    về phương bắc biển ầm ào bên trái
    biển quê anh ngược lại phải không?
    đồi núi nhô căng bãi bờ ẩm ướt
    hải âu hồn nhiên ngập mõ cửa sông
    nơi nào sóng cũng nôn nao



    làm quen mà làm gì
    vui thú với nhau có ngày anh biến mất
    như con cá quẩy đuôi quên hết bải dài
    Long Beach biết buồn ngang với Nha Trang
    với biệt ly nơi đâu không đau đớn...



    cưới em họ hàng anh mấy người đón nhận
    anh nghĩ da màu đang ứng cử tổng thống
    Hoa kỳ hết kỳ thị rồi em làm vợ ngoan hiền
    em là con dâu hạnh phúc khác màu da?



    em biết mình sống trong đất nước phồn vinh
    yên thân giữa bao bất trắc đói lạnh của hành tinh
    tri thức con người
    còn phân dịnh sắc màu
    da trời xanh cho hy vọng
    da trời đen mây u ám bão giông
    em mãi là cô gái da đen tủi thân
    anh đừng bắt chuyện với em
    chàng trai dễ thương tốt bụng
    có tâm thức hòa hợp
    anh hãy quên đêm Santa Barbara....
    cho em về cõi vô định cùng quê hương em!


California 20/6/2008



TRIỆU TỪ TRUYỀN




http://newvietart.com/index1.1531.html












More...

KENZABURO OE DẤN THÂN - HÀNH HƯƠNG & ĐỐI MẶT - TRIỆU TỪ TRUYỀN

By



Văn học châu Á lại được cả hành tinh lưu ý; nhà văn Nhật Kenzaburo Oe nhận giải thưởng Nobel văn chương 1994. Viện Hàn Lâm Thụy Điển nhận định: “…Kenzaburo Oe… sáng tạo thế giới kỳ ảo hội tụ cuộc sống với huyền thoại phản ánh rất cô đúc những hình tượng bi thương về thực trạng hiện sinh trên hành tinh…”

Kenzaburo Oe nhà văn Nhật của dấn thân hành hương và đối mặt xứng đáng được cả hành tinh chia sẽ khối thành tựu sán tác trong suốt gần 40 năm qua.

Kenzaburo Oe sinh ngày 31/01/1935 trên đảo Shikoku miền Nam Nhật Bản con trai của một tiều phu sống trong vùng hẻo lánh. 18 tuổi Kenzaburo Oe chưa biết xe lửa ra sao. Ngay những năm chưa đầy 20 tuổi Ông đã cảm nhận được thân phận của hai môi trường sống trên cùng một nước Nhật thủ đô Tokyo đối lập với vùng rừng núi cô quạnh ở quê hương Đảo Sikoku. Với nhiệt tình tuổi trẻ với khát vọng vươn lên ông tham gia hoạt động cho nghiệp đoàn Nông-Lâm Nghiệp bảo vệ quyền lợi những người lao động khổ cực. Ấy là nền tảng sự dấn thân của Kenzaburo Oe trong cuộc sống và văn nghiệp của mình.

Trong 4 năm (1954 - 1958) Kenzaburo Oe là sinh viên Khoa văn của Đại học Tổng hợp Tokyo dĩ nhiên ông tham gia hoạt động cho Phong trào Sinh viên Cánh tả. Lúc này Ông càng thấm thía hậu quả của chế độ Quân Phiệt Nhật một nước Nhật thảm bại sau Đại thế chiến Thế Giới thứ Hai một nước Nhật tạo cớ để Mỹ thí nghiệm Bom Hạt Nhân hủy diệt hai đảo Hiroshima và Nagasaki. Ông viết “Tuổi 17” quyển tiểu thuyết bị cấm lưu hành vì dựa vào bối cảnh vụ ám sát Tổng Bí Thư Đảng Xã Hội Nhật tháng 10/1960. trước đó 2 năm Kenzaburo Oe đã nổi tiếng với truyện ngắn “Mồi săn gia súc” được giải thưởng Văn học Akutagawa một giải thưởng có giá trị ở Nhật Bản.

Các nhà bình luận phương Tây luôn luôn nhấn mạnh quá đáng đến sự ảnh hưởng này nọ của trào lưu triết học văn hóa của các nước phương Tây với tác giả ở Châu Á. Không thể phủ nhận những đóng góp lớn vào kho tàng tri thức của loài người của thời kỳ Phục Hưng ở Pháp đặt biệt là về Văn học Nghệ thuật. Song không nên cho rằng thời sinh viên có nghiên cứu hoặc có viết tiểu luận về một danh nhân Châu Âu nào đó. Sau này người ấy phải bị ảnh hưởng nhân vật mà chính mình nghiên cứu. Bất kỳ một người trí thức nào một nhà Nghệ thuật nào trên hành tinh cũng đến ít nhiều kế thừa toàn bộ thành tựu văn hóa của loài người của các dân tộc của các Châu lục. Sự kế thừa ấy dù là Tiền đề (These) hay Hợp đề (Synthèse) cũng thế. Nếu cho rằng Kenzaburo Oe ảnh hưởng các nhà văn phương Tây: Dante; Rabelais Balzae … và Sartre là chưa thỏa đáng. Mặc dù thời sinh viên Ông có viết tiểu luận về Rabelais… về Chủ nghĩa Nhân văn thời Phục Hưng do giáo sư Kazuo Watanabe hướng dẫn và một bút ký về “hình tượng trong tiểu thuyết của Sartre”. Có thể nói ngay được rằng Sartre là nhà văn triết của Chủ nghĩa Hiện sinh Sartre đặt nền tảng tư tưởng và bút pháp trên Chủ nghĩa Duy lý của phương Tây. Còn Kenzaburo Oe có mượn sự phân tích duy lý (như bất kỳ nhà trí thức nào) nhưng đặt nền tảng trên tâm linh trên huyền thoại phương Đông trên tâm hồn Samurai Nhật Bản.

Kenzaburo Oe chẳng những dấn thân để tồn tại mà Ông còn hành hương về nguồn về với Đảo Shikoku với đạo lý phương Đông.

Kenzaburo Oe tâm sự : “Người ta trách cứ tôi tại sao luôn đề cập mãi một vấn đề. Tôi làm gì được cho con tôi? Chúng ta làm gì cho hành trình mai sau? Tôi muốn sáng tạovăn học để trả lời hai câu hỏi này.”

Con trai của nhà văn tên Hikari sinh năm 1963 bị bệnh tâm thần trí óc chậm phát triển - Kenzaburo Oe bị ám ảnh triền miên. Ông viết một tiểu thuyết có chủ đề đạo lý người cha do dự trước thực tại nuôi dưỡng chữa bệnh hay giết chết đứa con trai dị bệnh của mình. Không chỉ thấy quyển tiểu thuyết có tựa “Sự cố cá nhân” mà thực tế Ông chăm sóc con hướng dẫn con để cậu bé từ đần độn trở thành người soạn nhạc. Hikari được 31 tuổi có lẽ sẽ nổi tiếng với những sáng tác nhạc của mình. Các đặt vấn đề lạc quan của Kenzaburo Oe trên đây hoàn toàn xa lạ với Chủ nghĩa Hiện sinh của Jean-Paul Sartre.

Cuốn tiểu thuyết gần đây “Thư của những năm buồn nhớ quê hương” có dấu ấn hành hương về với bản sắc văn hóa dân tộc trên đảo Shikoku quê hương của Ông. Kenzaburo Oe không lặn hụp trong ao hồ quá khứ Ông muốn tìm về cội nguồn nắm bắt được bản sắc cái cốt lõi của một nền văn hóa đã tồn tại qua thử thách của lịch sử. Từ đó Ông sẽ viết về nước Nhật và cả hành tinh với kỳ vọng tồn tại mãi mãi dù cho phải di dân sang một hành tinh khác.

Phải chăng Kenzaburo Oe dấn thân để hành hương và hành hương để dấn thân nghĩa là đối mặt với cái xấu như : Quân phiệt Quan liêu Chiến tranh phi đạo lý hủy hoại môi sinh…?

Hotsuki Ozuki Chủ tịch Hội văn bút Nhật nhận định: “Là lớp nhà văn thuộc thế hệ sau chiến tranh Oe luôn đối mặt với hàng loạt vấn đề của hôm nay và sáng tạo một thế giới mới”.

Hai tác của Kenzaburo Oe ; “Tiếng Khóc Thầm Lặng và Trò Chơi Thế Kỷ” đã phản ánh tầm nhìn hiện tại của Ông chứng minh được nhận định về Ông của Chủ tịch Hội văn bút Nhật.

Nhà văn người gìn giữ lương tâm của loài người; chứng nhân của thời đại; còn hơn nữa người phác thảo tương lai. Kenzaburo Oe là nhà văn có tầm cỡ khái quát ấy song trước khi có tin được giải Nobel văn học 1994; ông nói : “Tôi không có ý muốn trở thành nhà văn lừng danh. Tôi thấy như trò đùa khi tên tôi được đề cử. Tôi nghĩ rằng các nhà văn Nhật: Kobo Abe; Shohei OoKa hoặc Masuji Ibuse sẽ được giải Nobel nếu các Ông ấy còn sống”.

Nước Nhật đang đóng góp những thành tựu Khoa học Kỹ thuật; hàng hóa tiêu dùng hiện đại cho khắp hành tinh nước Nhật còn có Yasunari Kawataba và Kenzaburo Oe (Nobel văn học 1994).




Saigòn 25 tháng 10 năm 1994


trong NHỮNG CHỮ QUA CẦU TÂM LINH

TRIỆU TỪ TRUYỀN

http//newvietart.com





More...

DEREK WALCOTT ÂM HƯỞNG THỦY TRIỀU CỦA BIỂN - TRIỆU TỪ TRUYỀN

By






 

 

 


Sainte-Lucie hòn đảo 616 km2 với 110.000 dân là một quốc gia độc lập trong vùng biển Caribê (Mer des Caraibes). Nhìn lên bản đồ Châu Mỹ đảo Sainte-Lucie như một hạt bụi ở phía Đông Nam CuBa và Đông Bắc Venézuala. Hạt bụi ấy vừa lấp lánh như viên kim cương làm thế giới lưu ý nhờ đứa con trai của Đảo nhận giải thưởng Văn học Nobel 1992 : DEREK WALCOTT nhà thơ nhà soạn kịch cũng là họa sĩ.


DEREK WALCOTT sinh ngày 23/1/1930 ở Castries thủ đô Sainte-Lucie làm thơ rất sớm xuất bản thơ lần đầu năm 19 tuổi với tập 25 Poems (25 bài thơ). Ngôn ngữ của DEREK WALCOTT như vai trò đầu đàn trong môi trường văn hoá ấy Thơ của WALCOTT truyền cảm đến mỗi chúng ta… Từ tinh túy của tác phẩm WALCOTT toát lên ba yếu tố chân thành: Yêu tổ quốc Caribe; ngôn ngữ Anh và nguồn gốc Châu Phi". Trong sáng tác WALCOTT sử dụng tiếng Anh chuẩn với phương pháp biện luận của dân bản xứ (Anglo-Sainte-Licien) cộng với tiếng Pháp lai tạp. Vào năm 1959 sau khi công diễn một phần vở kịch Frimidad Theatre Worshop mọi người đã nhận thấy tác giả tôn vinh điệu nhạc Calypsô ngang với vai kịch của Shakespeare. WALCOTT từng nói: "Người ta không thể hình thành thực thể thơ mà lại tin sự phân chia một thực thể nhân loại".



Tiếp theo tập 25 bài thơ năm 1949 WALCOTT cho xuất bản : GREEN NIGHT 1962 – THE CASTAWAY 1965 – THE GULF 1970 – SEE GRAPES 1976 – L’ ILIADE và L’ ODYSSÉE OMÉROS 1990.


Như nhà văn RAPHAEL CONFIANT ở đảo Martinique láng giềng của Sainte-Lucie nói về toàn bộ tác phẩm của WALCOTT: "Chủ đề chi phối torng thơ WALCOTT là rất kiêu hãnh và cao xa khi đề cập đến xã hội; cái chết; Thượng Đế và Chủng tộc trong lịch sử". WALCOTT cũng nhắc đến tính hai mặt của chủ nghĩa thực dân; vạch trần sự che giấu và trách nhiệm của họ. Song WALCOTT ưa thích phản ánh lòng thương người hơn là sự thù hận.


Trong tập SEA GRAPES (Những quả trên biển) xuất bản 1976 WALCOTT viết:


"Trở lại với tôi
Tiếng nói của tôi
Xin về lại
Ca cao
Thần chú
Cô đơn
Đồ nghề".

WALCOTT viết 22 vở kịch: TI JEAN AND HIS BROTHER 1958; MALCOCHON 1959; DREAM ON MONKEY MOUNTAIN 1967 ; IN A FINE CASTLE 1970… Các vở kịch này đều đề cập đến Cái Tốt và Cái Xấu trên đảo Sainte-Lucie.




Tác phẩm chính của DEREK WALCOTT là OMEROS ILLIADE và ODYSSÉ ở Ca-Ri-Bê; ấy là những lời thơ kiến trúc từ nhiều ngôn ngữ khác nhau tiếng Anh với tiếng Pháp pha tạp. Lấy hình tượng thần thoại Hy Lạp để xây dựng một lịch sử hiện đại.

Còn phải đọc nhiều hơn mới giao cảm trọn vẹn với DEREK WALCOTT. Những trang thơ của WALCOTT vang vọng tiếng sóng và tiếng gió của ngàn khơi. Hình tượng lồi lõm viền quanh các hòn đảo và cả nhịp đập của thủy triều dâng cao hạ xuống của biển… Những câu thơ trích dẫn trên liên tưởng đến cậu bé WALCOTT đang chạy ngang dọc trên bờ biển đùa giỡn bắt gặp mọi thứ bị xô dạt vào bờ nên đã từng tuyên bố: "Sự thống nhất của chúng ta là nhờ từ dưới biển: từ chai lọ đến trái ca cao cây mía trái chuối đến đồ nghề bằng gỗ… Tất cả như những thông điệp từ khắp nơi trên hành tinh gởi đến". Cậu bé ấy lớn lên chính là biển.



trong NHỮNG CHỮ QUA CẦU TÂM LINH 


TRIỆU TỪ
TRUYỀN

http://newvietart.com


More...

THẦN ÁI TÌNH LÀ CON CỦA AI? - TẢN VĂN CỦA TRIỆU TỪ TRUYỀN

By


THẦN ÁI TÌNH
LÀ CON CỦA AI?



B ước vào ngưỡng cửa của tuổi thanh niên. Đó là tuổi bệ phóng của cuộc đời một người. Bệ phóng có đặc điểm ra sao sẽ in dấu ấn đậm nét suốt hành trình trên cõi sống hữu hình này.


Nếu biết chuẩn bị chu đáo nhất định sẽ bay xa bay cao; nghĩa là sống có ý nghĩa đạt được mục tiêu mong muốn của mình giữa trần gian vốn lắm trò nghịch cảnh hỗn độn và thậm chí rất ít tình người.


Lúc con còn trong bụng mẹ có người cha đã suy nghĩ về cuộc đời một vài nhân tài. Cha có niềm tin là điều kiện chào đời của con gần giống với một vài danh nhân trong lịch sử. Nếu con tin là : “trí tuệ là sự nghiệp” như một hiền triết đã nói chắc chắn con sẽ là một hiền tài.


Phương hướng rất rõ song đường đi về nẻo ấy rất gian nan. Nếu ai không muốn bị rớt lại phía sau bị dạt vào lề phải học tập rèn luyện tối đa.


Ở trường dạy học theo tiêu chí chung của quốc gia theo thông lệ quốc tế. Học tốt ở trường là một đảm bảo căn bản để sống làm việc sau này.


Hoc không chỉ làm bài được điểm cao học thuộc những nguyên tắc những ý tưởng trong sách vở là đủ. Việc ấy rất cần nhưng còn phải học tại sao người ta đặt ra vấn đề đó không đề cập vấn đề khác ? Tại sao người ta trình bày ý tưởng theo 1 2 3… mà không 3 1 2… tại sao lại diễn đạt bằng từ ngữ này? Sao lại viết “với” mà không dùng từ “và” v.v… ? nên học cốt lõi của những bài học và học các phương pháp trình bày của những bài học đó.


Đồng thời còn có phương pháp trực cảm để hiểu biết lĩnh vực nhân văn không thể chỉ dùng phân tích và suy luận của khoa học thực nghiệm mà hiểu được văn hoá. Cảm nhận một con người một vấn đề nhân sinh không thể hiểu như tháo ráp máy vi tính hay một chiếc ôtô. Đó là lĩnh vực mà biết bao con người chân chính cảm thấy nhân loại không tiến bộ lên chút nào so với thời thượng cổ. Những cỗ máy hiện đại khi hỏng hóc có thể thay các linh kiện khác như nâng cấp máy vi tính vậy. Ngược lại một người có hành vi thô bạo có tính ích kỷ nói chung là khiếm khuyết về nhân cách thì không thể giải phẫu não để nâng cấp được. Chính vì vậy phương pháp tu thân của các tôn giáo các hệ tư tưởng đã đặt ra như khắc kỷ khổ hạnh diệt dục thiền quán xưng tội tự phê bình v.v… nhằm xua đuổi cái ác của mỗi người.


Tuy nhiên nói như một nhà hiền triết phương Đông: “Con khỉ dù có đọc sách cũng không thể thành thánh nhân được” cho nên các phương pháp tu thân ấy nhiều trường hợp chỉ là bề ngoài giả dối không thực tế. Trước khi thành hiền nhân phải là người chứ không phải là khỉ.


Sự rèn luyện nên người không chỉ tiếp thu tri thức của khoa học thực nghiệm từ vật lý vũ trụ đến sinh học mà còn phải trực cảm thế giới tâm linh.


Chính thế giới tâm linh chi phối cá tính tình cảm và thân phận mỗi con người. Từ những hành vi yêu thương của cha mẹ mà con cái chào đời hơn nữa thế giới tâm linh đã chiết ra chút ít ánh sáng và bóng tối để tạo ra nội tâm cho đứa con ấy. Vì vậy trước hết là thân xác để phát triển nên sinh vật người song để tồn tại như một con người là nhờ tương tác của năng lượng tâm linh (sinh sản vô tính không làm nên thực thể người được).


Tại sao nhấn mạnh những tương tác vô hình của tâm linh lên thân xác con người? Bởi vì những tương tác ấy chính là gốc rễ của đạo lý của lương tâm của lòng nhân của thẩm mỹ… Nếu trực cảm cuộc sống bằng tâm linh mới có những hành vi nhân bản mới có đạo đức như người ta thường nói.


Câu chuyện về thần ái tình của triết gia Socrate kể lại cho học trò dưới đây là một trực cảm tâm linh về tình yêu nam nữ:


Nhân ngày sinh của thần tình dục thần giàu sang tổ chức một buổi liên hoan chè chén linh đình. Trong các thực khách có nữ thần nghèo hèn đến để xin ăn. Nữ thần nghèo hèn có manh tâm lấy cho được thần giàu sang để khỏi phải đi ăn xin nữa. Thần giàu sang sau khi ăn nhậu no say đi đến vườn của thần Zeus và ngủ li bì ở đó. Thần nghèo hèn đến nằm cạnh thần giàu sang. Sau đó nữ thần nghèo hèn thụ thai đã sinh ra thần ái tình.


Như vậy thần ái tình vừa có bản chất của cha là giàu sang vừa có thuộc tính của mẹ là nghèo hèn từ đó có thể cảm nhận những hệ quả sau đó của thần ái tình không?!


Đương nhiên là thấy rõ được nhiều điều: ái tình không phân biệt giàu sang nghèo hèn. Đôi khi ái tình cũng quên mất bản chất của cha để có “một túp lều tranh hai quả tim vàng” hoặc quên mất thuộc tính của mẹ để có ái tình “môn đăng hộ đối”…


Xin lưu ý ý tưởng quan trọng khác của Socrate: Điều kiện để thần ái tình ra đời chính là mừng ngày sinh của thần tình dục chứ không phải thần ái tình là con của thần tình dục. Thần tình dục và thần ái tình là bình đẳng. Vì vậy đứng trước sự rung động yêu đương của nam nữ nên biết hạn chế sự khuấy động của thần tình dục. Đây là một nan vấn cho tuổi trẻ? Chưa lập gia đình thì xử sự ra sao để cả hai thần đều hài lòng?


Thần tình dục thường gây tổn thương cho người con gái do đó con trai phải biết giúp người yêu mình làm hài lòng thần ái tình nghĩa là được hạnh phúc lâu bền về sau. Lời giải đáp riêng tư này phải tự hỏi nội tâm của chính mình phải lắng nghe tâm linh mách bảo như nhà thơ tự tìm được câu thơ hay.


TRIỆU TỪ TRUYỀN



Trong tập tản văn

NHỮNG CHỮ QUA CÂU TÂM LINH

http://newvietart.com





More...

TÂM & TÂM THỨC - TRIỆU TỪ TRUYỀN

By





TÂM & TÂM THỨC

C
ó thể hiểu tài trí là khả năng lớn của duy lý của khoa học còn tâm thức là thuộc tính chính của tâm linh của trực cảm. Và Nguyễn Du muốn mỗi người nhận rõ:

“Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Dù ở bất kỳ thời đại nào.


Trong tiểu dẫn của bài thơ Long Thành Cầm Giả Ca Nguyễn Du có viết: “… Tôi không biết là ai duy nghe tiếng đàn thì có vẻ quen quen nên động lòng thương…” “… Than ôi! Người ấy sao đến nỗi này. Đời người trăm năm vinh nhục buồn vui thật không lường được…”. Biểu hiện “chữ tâm” của Nguyễn Du chính ở chỗ “động lòng thương” này.


Ngoài 20 tuổi một lần về kinh thành thăm người thân Nguyễn Du nghe được tiếng đàn của một thiếu nữ vốn là nữ nhạc trong cung đình nhà Lê. Gần 50 tuổi trong chuyến đi sứ sang Bắc (Trung Hoa) dừng lại ở Thăng Long được nghe lại tiếng đàn: "Khoan như gió nhẹ qua rừng tùng/ Trong như đôi hạc kêu trong đêm/ Mạnh như tiếng sét đánh tan bia…" Nhưng cô gái xưa đã ở tuổi tàn phai: “Tôi về Nam đến nay đầu bạc hết/ Thì lo gì người đẹp nhan sắc chẳng suy tàn/ Đôi mắt nhìn trừng trừng luống tưởng tượng/ Khá thương đối diện mà chẳng biết nhau…”.


Chữ Tâm không phải cấu tạo bằng ý thức cũng không phải là hệ quả của tài trí. Do đó hành vi làm tròn nhiệm vụ làm tốt trách nhiệm của một viên chức không hẳn là xuất phát từ chữ Tâm. Nó chỉ là ý thức hiệu quả công việc kết quả đào tạo của xã hội. Ai đó chưa làm tốt chức trách của mình lạm dụng chức vụ để trục lợi là do suy thoái về nhân cách.


Câu chuyện của Nguyễn Du trong bài thơ Long Thành cầm giả ca nêu trên là đặc trưng cho chữ Tâm. Chữ Tâm là bản chất hoàn chỉnh của loài người. Nỗi rung động lòng thương cảm không xuất phát vì lý do chính trị kinh tế hay tôn giáo nào đó. Nó cao hơn gấp bội so với biểu hiện của “một con ngựa đau cả tài không ăn cỏ”. Nhân tâm phải là “thương người như thể thương thân” (Nguyễn Trãi). Tình thương ấy không định kiến không vụ lợi không cạnh tranh. Nhân tâm theo Nguyễn Du còn là động lòng xót thương trước tình cảnh éo le thân phận chìm nổi trước người thế yếu kẻ bần hàn...


Như vậy chữ Tâm không đóng khung trong mỗi thực tại không vì giới hạn thời gian không gian nào đó. Nó thuộc lĩnh vực tâm linh. Muốn cảm nhận được chữ Tâm không thể dùng phương pháp của lý tính. Chỉ có tâm thức mới tiếp cận được chữ Tâm. Làm người cho đúng nghĩa ai cũng có chữ tâm Tâm là bản năng của sinh vật cấp cao nhưng chữ Tâm hoang sơ này vẫn dẫm chân tại chỗ suốt dọc hàng triệu năm qua từ khi có loài người.


Loài người chỉ mải mê phát triển tài trí để chinh phục dẫn đến tàn hại thiên nhiên diệt chủng các sinh vật khác đồng thời cũng chia rẽ loài người theo chủng tộc tín ngưỡng giai cấp… để tàn sát lẫn nhau. Chỉ một ít nhà hiền triết những nhân tài chân chính mới chăm lo phát triển tâm thức làm chữ Tâm phong phú đa dạng hơn. Song phải chăng vũ trụ này cấu tạo chỉ có 10% ánh sáng còn lại là do bóng tối thống trị nên nhân tâm cấu tạo xã hội cũng ít ỏi như thế!


Thế kỷ 20 khoa học chứng minh có những vật thể không phải sóng cũng không phải hạt mà dường như chúng vừa là cái này vừa là cái kia. Thuyết lượng tử đã khẳng định mỗi hạt được dẫn dắt bởi một sóng (nguyên tử hydro) ngược lại mỗi sóng lại kéo theo một hạt (ánh sáng). Tâm thức có thể thấy trước khoa học nên không võ đoán hạt là hạt sóng là sóng trước khi thuyết lượng tử hình thành. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có lời ca : “Cơn mưa là nắng vô thường…”.


Nguyễn Du có nhắc lại sự kiện trong thực tại lịch sử như: cô gái đàn nguyệt cầm từng ở trong cung vua nhà Lê hoặc các quan nhà Tây Sơn vung thưởng bạc vàng khi nghe đàn… không phải Nguyễn Du hoài Lê hay nuối tiếc Tây Sơn như cách suy luận của tài trí. Ở đây thi hào Nguyễn Du tiếp cận sự kiện bằng tâm thức và nó chỉ là hình tượng phản ánh nhiều thực tại. Cô gái ấy đàn hay nhất vì ở trong đội nữ nhạc cung vua (giống như khái niệm công chúa luôn là người đẹp nhất) được mến mộ tài năng nhất (vì được ban tặng bạc vàng của phe đắc thắng) thế thôi!


Có thể công bố thẳng thắn rằng đối với các thiên tài văn học nghệ thuật: thi sĩ nhạc sĩ họa sĩ… từ xưa đến nay họ chưa thật sự là thần dân của ai cả. Hiếm ai nói lên điều này vì không muốn tự mình lên án tử hình cho chính mình suốt các triều đại chuyên chế. Mãi đến thế kỷ 20 có một nhà văn Mỹ đã viết : “Tôi viết văn để loại ra nguy cơ chính tôi là một kẻ thống trị hoặc xoá đi một tên bị trị” (Henry Miller). Các thiên tài văn hoá không bị ai nô dịch nổi dù đó là Thành Cát Tư Hãn César Naponéon… Họ sống với thân xác giới hạn nhưng tâm thức họ là vô hạn.


Tâm thức mới có thể nắm bắt vô số thực tại chồng chất hỗn độn bên nhau. Tâm thức mới hình dung nổi không gian nhiều chiều. Tâm thức mới phát hiện được “hạt của Chúa” trong vật lý các hạt hạ nguyên tử. Chắc chi rằng dù có tốn hàng chục tỉ USD để tạo ra thiết bị tìm hạt nhỏ cuối cùng cấu tạo vũ trụ tài trí cũng sẽ bất lực thôi! Bởi vì nhỏ hay lớn cũng chỉ là ảo giác do những thiết bị chủ quan đo đạc. Nên tiếp cận vũ trụ bằng tâm thức để nâng cao chữ Tâm ở con người. Chữ Tâm và hạnh phúc luôn tỉ lệ thuận với nhau!


Nguyễn Du viết: “Ba trăm năm sau có ai khóc Tố Như không?” không phải chỉ nói về sự đồng cảm về tìm tri âm dọc chiều dài lịch sử mà Nguyễn Du muốn thông điệp đến thế hệ sau: Nguyễn Du không quan tâm ở một giai đoạn lịch sử thế thì thế lực nào chi phối thế lực nào bị chi phối có ý nghĩa gì đối với Nguyễn Du đâu. Chỉ muốn tấm lòng cái tâm của mình được chia sẻ. “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
 

Trong tập tản văn

NHỮNG CHỮ QUA CÂU TÂM LINH

TRIỆU TỪ TRUYỀN


http://www.newvietart.com


More...