THỬ TÌM HIỂU NĂM SINH NĂM MẤT CỦA CAO BÁ QUÁT - BÀI VIẾT CỦA TRẦN CÔNG NGHỊ

By



CAO BÁ QUÁT (? - ?)


 

THỬ TÌM HIỂU NĂM SINH NĂM MẤT CỦA CAO BÁ QUÁT





Sau vụ khởi nghĩa ở Mỹ Lương vào năm 1854 Cao Bá Quát đối với triều Nguyễn là một nghịch thần.  Cả dòng họ ông bị quan lại săn đuổi truy lùng để tiêu diệt.  Văn thơ ông bị thiêu hủy và cấm tàng trữ.  Những người trong dòng họ muốn sống còn phải đổi tên cải họ và đổi vùng sinh hoạt.  Phải chờ một thời gian khá lâu hoặc một cơ hội thuận tiện có khi đến lúc qua đời mới trở về họ Cao.


(nghĩa quân)



(Gần đây người viết có bắt liên lạc với một người ở Long An nhận mình là dòng họ cháu chắt của Cao Bá Quát.  Anh này cho biết hiện nay anh đang mang họ Trần. Ba anh dặn dò khi qua đời tất cả bia mộ đều đề họ Cao. Nội tổ của anh cũng đã từng di chúc như vậy với ba của anh. Chúng tôi đang tiếp tục tìm hiểu thêm về nhánh họ Cao này). Như vậy việc nghiên cứu về thân thế sự nghiệp văn thơ của  Cao Bá Quát từ trước đến nay là một điều không dễ dàng.


(nghĩa quân)



1. 
Năm Sinh Của Cao Bá Quát:

Trước đây các nhà khảo cứu văn học không biết ông sinh năm nào.  Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên tác giả Phạm Thế Ngũ chú thích 8 trang 437 “Cứ theo tung tích và sự liên lạc với người đương thời người ta đoán Cao Bá Quát sinh vào khoảng từ 1800 đến 1803.  Nguyễn Siêu người bạn ông mến phục sinh năm 1799 Phạm Văn Nghị người vẫn coi ông là bậc đàn anh sinh năm 1805” (1). Tủ Sách Đại Học Sư Phạm Lịch Sử Văn Học Việt Nam tập 3 tác giả Lê Trí Viễn mở đầu chương III với dấu hỏi không rõ ông sinh năm nào “CAO BÁ QUÁT (? - 1855)” (2). Trong tập biên khảo “Lối Xưa Xe Ngựa” của Nguyễn Thị Chân Quỳnh không biết căn cứ vào tư liệu nào bà xác định Cao Bá Quát sinh năm 1808:
“Đầu thế kỷ 19 Cao Bá Quát (1808 – 54/55) khi đi sứ Tân-Gia-Ba có dịp mở rộng tầm mắt...” (3)



(vệ binh)


Ngày nay đa số những người viết tiểu sử của ông tạm thời chấp nhận sự phát hiện của nhóm  nghiên cứu Vũ Khiêu Nguyễn Văn Tú  Nguyễn Trác Hoàng Hữu Viên Hoàng Tạo... qua tập THƠ VĂN CAO BÁ QUÁT; năm sinh của Cao Bá Quát là 1809. Trong phần “Lời giới thiệu”của Vũ Khiêu: [ Cao Bá Quát tự là Chu Thần hiệu là Cúc Đường biệt hiệu là Mẫn Hiên. Ông sinh năm 1809 tại làng Phú Thị huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Quyết Chiến huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội).


Sử sách triều Nguyễn không ghi ngày sinh của ông.  Khẳng định ông sinh năm 1809 là căn cứ vào bài “Thiên cư thuyết” của ông. Trong bài có chỗ viết: "Với cái tuổi ta mới hai kỷ mà núi sông thành quách cũ đã thấy thay đổi đến ba lần”.
  Cuối bài ghi: “Tháng mạnh thu năm Nhâm Thìn
Chu
thần thị viết bài thuyết này”.  Năm Nhâm Thìn tức là năm 1832 -  nếu ông đủ hai kỷ tức 24 tuổi (tính theo âm lịch) thì tức là ông sinh năm Kỷ Tỵ Gia Long thứ 8 (1809)] (4). Người viết lưu ý để dễ nhớ chỉ cần làm bài toán đơn giản: 1832 – 23 = 1809 (24 tuổi ta = 23 tuổi tây). (*)


(mã binh)



2.
Năm Mất Của Cao Bá Quát:

Cũng trong phần “Lời giới thiệu” của Vũ Khiêu (5): “Giữa năm 1853 (Tự Đức năm thứ 7) ông xin thôi dạy lấy cớ về nuôi mẹ già.  Năm ấy tại miền Bắc vào tháng 6 tháng 7 châu chấu bay mù trời lúa má bị chúng cắn sạch nạn đói hoành hành mọi người ta thán.  Cao Bá Quát đã đứng lên tụ tập nhân dân bí mật một cuộc khởi nghĩa tại Hà Nội”.  Vũ Khiêu không xác quyết năm qua đời của Cao Bá Quát.



(quan lại)


Tác giả Phạm Thế Ngũ (6) trong sách nêu trên cho rằng Cao Bá Quát mất năm 1854: “Năm 1854 ông phải thiên ra làm Giáo thụ Quốc oai (một phủ ở biên giới tỉnh Sơn Tây). Chán nản phẫn uất với triều đình ông mới mưu phản giao thiệp với đầu mục đảng kín là Nguyễn Kim Thanh phù Lê Duy Cự làm minh chủ và tháng 10 năm ấy khởi nghĩa ở Mỹ Lương.  Nghĩa quân bị quân triều phá tan. Cao Bá Quát bị bắt đưa về nguyên quán chịu án xử chém với hai con là Bá Phùng Bá Thông”.


Tác giả Nguyễn Thị Chân Quỳnh trong tác phẩm đã nêu trên lưỡng lự về năm qua đời của Cao Bá Quát nên đã viết nước đôi 54/55. (7)

Trong tập “Thơ Cao Bá Quát” (8) tác giả Kiều Văn cũng ghi năm mất của Cao Bá Quát là 1854.


(thái giám)



Sự thực Cao Bá Quát mất vào tháng chạp năm  giáp dần “Tháng 12 phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận phát hết đảng giặc ở núi An Sơn; Cao Bá Quát thua rồi chết quân Triều bắt sống được tướng giặc và đảng giặc đem về” (9).  Căn cứ vào sử liệu của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn “Cao Bá Quát thua rồi chết” thì chứng tỏ ông đã đánh nhau với quân triều đình thua trận và chết tại trận tiền chứ không phải bị bắt rồi bị xử án chém. 

Sở dĩ có sự nhầm lẫn về năm dương lịch xảy ra là vì khi nói đến năm giáp dần thì đổi qua dương lịch là năm 1854 năm  ất mão là 1855.  Các vị ấy quên rằng tháng chạp năm giáp dần chuyển qua dương lịch như sau:

-        
Ngày 01 tháng chạp năm giáp dần nhằm ngày 18.01.1855.
-         Ngày 30 tháng chạp năm giáp dần nhằm ngày 16.02.1855.

Như vậy nguyên tháng chạp năm giáp dần rơi vào năm 1855 rồi.  Cho nên năm qua đời của Cao Bá Quát là năm  1855.


(một ông quan)


Hiện nay các tài liệu lịch sử nói về Cao Bá Quát chưa phát hiện được nhiều.  Hoàn cảnh của Cao Bá Quát cũng khá đặc biệt vì bị xếp vào loại nghịch thần làm giặc nên thơ văn sách vở nói về ông vào thời triều Nguyễn rất hạn chế. Nếu ai có điều kiện có thể tìm về nơi ông đã từng làm việc (viện Hàn Lâm) hoặc có thể tìm lại lý lịch của ông trong cuộc thi Hương vào thời nhà Nguyễn: “Mãi sau mới có định lệ kể từ khoa 1829 học trò ứng thi phải khai đủ tên họ lý lịch ông cha ba đời trên mặt quyển. Lời khai phải được lý trưởng chứng nhận.” (10).  Cao Bá Quát đậu Á nguyên (thứ nhì) tại trường thi Hà Nội vào năm 1831 khi quyển thi nộp về kinh bị bộ Lễ xếp xuống cuối bảng.  Tại bô Lễ còn tìm được dấu tích gì về quyển thi và lý lịch của ông?



(một buổi chầu)



Trong khi chờ đợi những phát hiện mới về Cao Bá Quát   chúng ta có thể tạm chấp nhận năm sinh của ông là 1809 và năm qua đời là 1855.



Trần Công Nghị





Chú thích:

1. Phạm Thế Ngũ Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên Cơ Sở XB ĐN U.S.A. không đề năm tr.437
2.
Lịch sử Văn học Việt Nam tập 3 NXB Giáo Dục 1976 tr.297.
3. Nguyễn Thị Chân Quỳnh  "Lối Xưa Xe Ngựa  NXB An Tiêm Paris  1995 tr.34.
4. 
Thơ văn Cao Bá Quát NXB Văn Học Hà Nội - 1984 tr. 9.
5.  
Sđd tr.39.
6. 
Phạm Thế Ngũ Sđd. tr.438
7. 
Nguyễn Thị Chân Quỳnh Sđd tr. 34
8. 
Thơ Cao Bá Quát NXB Đồng Nai 2000 tr.5.
9. 
Quốc Sử Quán Triều Nguyễn Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu Quyển 5; chủ biên Cao Xuân Dục Thế kỷ 20 (1908) tr.155. Việt Học Thư Quán – Nhóm bạn Lê Bắc Doãn Vượng Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.
10.
Nguyễn Thi Chân Quỳnh Sđd tr. 48.
*
Tuổi ta: tính từ lúc thai nhi còn trong bụng mẹ chờ ngày ra đời (9 tháng 10 ngày). Khi vừa ra đời đứa bé được tính 1 tuổi.

Tuổi tây: tính từ lúc chào đời là 0 tuổi.  (12 tháng sau mới tính 1 tuổi).
Nhưng hiện nay tại các nước phương tây ngành bảo hiểm nhân thọ (life insurance ) đa số các công ty tính tuổi trước sáu tháng kể từ ngày sinh (khoảng 180 ngày). Có thể nói đông và tây  đã gặp nhau 6 tháng tuổi.




More...

TÌNH & EM - THƠ TRẦN CÔNG NGHỊ

By










theo em


theo em qua phố trưa nay
trời quang mây tạnh một ngày dễ thương
chim non reo hót trong vườn
lá xanh rộn rã bên đường em qua


cái thương vào giữa bao la
cái buồn vơ vẩn như xa như gần
em đi lòng có bâng khuâng
theo em anh cứ phân vân bước hoài





chào em


đã mấy năm rồi không gặp lại
kể từ hạ ấy mình chia xa
kẻ ở người đi lòng aí ngại
chút tình mới nở có phôi pha


ta nhớ em đôi mắt xanh đen
hàm răng hạt lựu sáng như trăng
em cười ai đó say như rượu
giữa phố trưa hè em nhớ chăng
 




từ dạo xứ người em theo học
lạc giữa đô thành ta vào đời
thư xa nghẹn ngào không nói được
những giờ những phút sắp chia phôi



chào em gởi lại hồn thơ dại
dẫu có ngậm ngùi xin lãng quên
ân tình một thuở nay còn lại
gởi vào mây trắng giữa mông mênh





thư cho em



ta nhìn nắng ấm ngoài khung cửa
mà thấy lòng ta lạnh buốt xương
đôi khi trời nổi cơn bão tuyết
em ở quê nhà nghe vấn vương



xuân tạm vui xuân trên đất lạ
mà sầu cố xứ chẳng phôi pha
m
ồng một lang thang đi xuống phố
ngùi thương ngùi thương kẻ xa nhà
 


         


                   
chẳng biết bây giờ nơi quê ấy
em còn đi chợ sớm hay không
môi đỏ mắt xanh trời kỷ niệm
làm ai chút phận có long đong
                        
trên bắc địa cầu ta ở đó
mà nguyện làm chim đậu cành nam
chẳng biết bao giờ em sẽ đến
mà ta đứng đó chờ muôn năm

 
                       
2.1986
   




                    
toronto
trần công nghị


More...

CAO BÁ QUÁT DU HỘI AN... - TRẦN CÔNG NGHỊ

By






TRẦN CÔNG NGHỊ



              

CAO  BÁ  QUÁT 
DU  HỘI  AN...
 

 
                   
 


1.  Cao Bá Quát sinh năm 1809 người làng Phú Thị huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh    tự là Chu Thần hiệu là Cúc Đường biệt hiệu là Mẫn Hiên. Ông song sinh cùng với anh là Cao Bá Đạt.

Từ nhỏ ông là người văn hay chữ tốt đỗ cử nhân vào năm 1831 (Minh Mạng thứ 12).  Năm 1841 (Thiệu Trị thứ 1) ông được triệu vào kinh lãnh chức Hành tẩu bộ Lễ.  Trong lúc làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên vì thấy nhiều bài thi hay mà  phạm húy nên ông đã dùng muội đèn sửa giúp.  Việc bị phát giác ông đi tù và bị phát phối vào Đà Nẵng. 

Nhân phái đoàn Đào Trí Phú đi công cán Hạ Châu (1) năm 1844 ông được triều đình cho đi theo phục dịch trong đoàn với chức vụ "tham quân" (giữ văn thư giấy tờ giao dịch) để lấy công chuộc tội. Sau khi trở về ông được phục chức rồi thăng lên chủ sự.  
 



Thời kỳ ở kinh đô Huế ông rất được kính nể vì tài thơ văn xuất chúng tuy nhiên cũng lắm kẻ ganh ghét vì tính cao ngạo của ông. Người đương thời ca tụng "Thần Siêu Thánh Quát" và tương truyền vua Tự Đức đã từng khen rằng:

"Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán.
Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường"
(2).
 


Năm 1854 (Tự Đức thứ 7) ông được lịnh đi nhậm chức Giáo thụ ở phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tâỵ  Lúc này ông tỏ ra chán nản căm ghét triều đình phản ảnh qua câu đối dán nơi dạy học:
         

Nhà trống ba gian một thầy một cô một chó cái
Học trò dăm đứa nửa người nửa ngợm nửa đười ươi. 




Chỉ một thời gian ngắn sau đó ông từ chức về quê Bắc Ninh rồi tổ chức khởi nghĩa chống lại triều đình ở Mỹ Lương vào tháng 8 năm giáp dần (1854) tôn Lê Duy Cự làm minh chủ và ông là Quốc sư (3). 

Trên lá cờ khởi nghĩa có hai hàng chữ:
         

Bình Dương Bồ Bản vô Nghiêu Thuấn
Mục Dã Minh Điều hữu Võ Thang  (4) 

Cuộc khởi nghĩa thất bại.  Cao Bá Quát tử trận vào tháng chạp năm giáp dần (đầu năm 1855). "Tháng 12 phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận phát hết đảng giặc ở núi An Sơn; Cao Bá quát thua rồi chết quân Triều bắt sống được tướng giặc và đảng giặc đem về". (5) Cả dòng họ Cao bị triều đình nhà Nguyễn tiêu diệt với bản án "tru di tam tộc".

Hai người con của ông là Bá Phùng Bá Thông bị xử chém tại quê nhà.  Anh của ông Cao Bá Đạt đang làm tri huyện Nông Cống (Thanh Hoá) bị bắt trên đường giải về kinh đã đâm cổ tự tử.  Con trai của Cao Bá Đạt là Cao Bá Nhạ (tác giả  Tự Tình Khúc) trốn tránh nhưng tám năm sau cũng bị bắt.  Có thuyết nói ông bị chết chém có thuyết nói ông bị đày lên mạn ngược rồi mất tích.

Thơ văn của Cao Bá Quát bị thất lạc nhiều.  Ông còn để lại  một số bài thơ nôm (hát nói Đường luật) một bài phú "Tài Tử Đa Cùng" một số câu đối và thơ văn chữ Hán do người đời sau sưu tập như Cao Bá Quát Thi Tập Chu Thần Thi Tập Mẫn Hiên Thi Tập Cao Chu Thần Di Cảo. Tổng số hơn một ngàn bài.
  


                 
 

2.  Bài "Du Hội An phùng Vị thành ca giả" được sáng tác sau thời gian Cao Bá Quát phục chức trở về làm việc ở viện Hàn Lâm vào năm 1847.  Sau đó ông được cử đi công tác ở Đà Nẵng Hội An Quảng Ngãi vào mùa thu năm đó. 

Bài "Trà giang thu nguyệt ca" (Trăng thu sông Trà) chắc cũng được sáng tác vào thời gian này khi thuyền ông vào Quảng Ngãị.  Vào giai đoạn này thương cảng Hội An bắt đầu mất vị thế ưu tiên vì lòng sông Cổ Cò từ Hội An ra Đà Nẵng dần dần bị phù sa bồi lấp.  Tuy nhiên vào thời ấy phố Hội vẫn là nơi phồn hoa đô hội (6) nơi giao lưu bao nền văn hóa Sa Huỳnh Chăm Hoa Nhật Đông Nam Á và các nước phương Tây...





 
DU HỘI AN PHÙNG VỊ THÀNH CA GỈA 

Cộng thán tương phùng vãn
Tương phùng thị khách trung.
Quản huyền kim dạ nguyệt
Hương quốc kỷ thu phong.
Lệ tận tôn nhưng lục
Tâm hôi chúc tự hồng
Cựu du phương lạc lạc
Nhất khúc mạc từ chung!
 

Cao Bá Quát
  

Cùng  than thở gặp nhau  muộn màng
Lại gặp nhau trên đất khách.
Sáo và đàn dưới ánh trăng đêm nay
Xa cách quê nhà qua bao mùa gió thu.
Nước mắt đã cạn chén rượu vẫn đầy
Lòng đã nguội lạnh ngọn đèn cứ cháy
Bạn cũ giờ lưa thưa dần
Chỉ một khúc hát mà sao không cho nghe trọn! 
 


CHƠI PHỐ HỘI
GẶP NGƯỜI ĐÀO HÁT THÀNH VỊ
 

Cùng than thở gặp nhau đã muộn
Hỡi người xưa! Gặp chốn phương xa.
Sáo đàn dưới ánh trăng ngà
Quê hương thu cách trải qua mấy mùa.
Đèn vẫn cháy lòng sao nỡ tắt
Rượu còn đây nước mắt ai vơi
Bạn xưa còn được mấy người
Tiếc chi khúc hát nàng thôi cất lời!
 

Bản dịch của Trần Công Nghị
   





Đi chơi Hội An tình cờ gặp người đào hát thành Vị! Vị ở đây là Vị xuyên
Nam Định. Tựa bài thơ đọc lên nghe rất vô tư khách quan! Bốn câu thơ đầu Cao Bá Quát cho chúng ta biết được mối quan hệ gần gũi giữa tác giả và cô đào hát. "Tha hương ngộ cố tri " - xa quê gặp người thân quen thật là cảm động và hạnh phúc! Huống chi là "cố nhân"! Sao không gặp gỡ sớm hơn!

Gặp nhau nơi xứ người sau bao thay đổi nổi trôi. Người ca sĩ từ
Nam Định lưu lạc về đây. Còn ông trải bao tháng ngày tù tội lênh đênh chân trời góc bể hứng chịu bao đớn đau trên bước đường làm quan. Đêm nay dưới ánh trăng thu phố Hội tiếng sáo tiếng đàn quyện vào nhau đánh dấu một đêm hội ngộ tràn đầy thương cảm. Họ cùng cảm nhận thương nhớ quê xa mà đã trải qua nhiều năm dài nghe gió thu mịt mùng từ phương bắc thổi về.
 

Đến đây tiếng đàn tiếng hát đều dừng lại. Không gian chìm lắng. Họ đã cùng nhau khóc. Chén rượu vẫn tràn đầy chơ vơ trên mặt bàn kia. Ngọn đèn vẫn tiếp tục cháy sáng nhưng họ ngậm ngùi  vì cái thời son trẻ sôi nổi rộn ràng đã chùng lắng xuống. Cô đơn. Rã rời. Bạn bè cũng chẳng còn ai! Sao người không hát nữa?   
 

Gặp lại cố nhân nơi quê người. Cùng khóc nhau thân phận cuộc đời và nỗi cô đơn không cùng của người nghệ sĩ. Lời thơ bàng bạc ý thơ cô đọng ngậm ngùi. Cao Bá Quát đang đi vào nguồn thơ trăng mênh mông (Trăng thu sông Trà). Có dịp chúng tôi sẽ trở lại.
  

TRẦN CÔNG NGHỊ
 


 



CHÚ THÍCH

1.  Hạ Châu: Các vùng thuộc miền dưới như Tân-gia-ba Mã Lai Nam Dương. Về chuyến đi này có thể xem "Thử tìm hiểu thêm về chuyến đi công vụ ở Hạ Châu cuả Cao Bá Quát" cuả Vĩnh Sính trên trang mạng: http://zdfree.free.fr/diendan/articles/u137vsinh.html

2.  Văn tài như Nguyễn văn Siêu Cao Bá Quát thì hơn hẳn thời Tiền Hán
     Làm thơ như Tùng Thiện Vương Tuy Lý Vương thì hơn hẳn thời Thịnh Đường

3. Trần trọng Kim Việt Nam  Sử Lược Bộ Giáo Dục Trung Tâm Học Liệu xuất bản 1971
Cơ Sở XBĐN USA quyển 2 tr. 268.

4.  Bình Dương Bồ Bản không còn vua hiền như Nghiêu Thuấn thì ở Mục Dã Minh Điều phải có vua Thang vua Vũ nổi lên chống lại

5. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu Quyển 5; chủ biên: Cao Xuân Dục Thế Kỷ 20 (1908) tr. 155. Việt Học Thư Quán - Nhóm bạn Lê Bắc Doãn Vượng Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001. 

6. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn Đại Nam Nhất Thống Chí tập 2 NXB Thuận  Hoá 1997 tr. 364 376.
 




       
                                                  
                                                                                                                                        

More...